Thích Ca Mâu Ni

《釋迦牟尼》 shì jiā móu ní

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Śākya-muni, Pāli: Sakya-muni: ý là bậc Thánh Nhân xuất thân từ dòng họ Thích Ca còn gọi là Thích Ca Văn Ni (), Xa Ca Dạ Mâu Ni (), Thích Ca Mâu Nẵng (), Thích Ca Văn (); gọi tắt là Thích Ca (), Mâu Ni (), Văn Ni (); ý dịch là Năng Nhân (), Năng Nhẫn (), Năng Tịch (), Tịch Mặc (), Năng Mãn (滿), Độ Ốc Tiêu (), hay Thích Ca Tịch Tĩnh (), Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn (), Thích Tôn (); là đấng giáo tổ của Phật Giáo. Nguyên do xưng hiệu của Ngài có thể tìm thấy trong Quán Chư Dị Đạo Phẩm () của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 20, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đàm Bát Kiền Độ Luận (, Taishō Vol. 26, No. 1543) quyển 30, v.v. Đức Thích Tôn vốn là Thái Tử của vua Tịnh Phạn (Sanskrit: Śuddhodana, Pāli: Suddhodana ) thành Ca Tỳ La Vệ (Sanskrit: Kapilavastu, Pāli: Kapilavatthu ) thuộc miền Bắc Ấn Độ. Thành này hiện tại ở vùng phụ cận Tilori-Kot (, Đề La Lí Khắc) thuộc phía Nam Nepal (, Ni Bạc Nhĩ), phía Đông Bắc sông Rapti (, Lạp Bố Đề). Diện tích tiểu quốc này khoảng 320 m2, thuộc vào vương quốc Kiều Tát La (Sanskrit: Kauśala, Kośalā, Pāli: Kosala ). Đương thời Bắc Ấn thực hành chế độ Cộng Hòa Quý Tộc, phân thành 10 bang thành nhỏ, trong đó chọn ra vị lãnh đạo có thế lực nhất, và lúc bấy giờ vua Tịnh Phạn là vị lãnh tụ tối cao. Hoàng hậu Ma Da (Sanskrit: Māyā, ), mẫu thân của đức Phật, là con gái của chủ Thành Thiên Tý (Sanskrit: Devadaha, ) thuộc bộ tộc Cư Lợi () lân quốc. Trước khi Hạ Sinh Thái Tử, theo tập tục đương thời, phu nhân phải quay trở về Thành Thiên Tý để chờ ngày lâm bồn, dọc đường khi đang dừng chân nghỉ tại vườn Lâm Tỳ Ni (s, Pāli: Lumbinī ), ngay dưới gốc cây Vô Ưu (Sanskrit: aśoka, ), nàng Hạ Sinh Thái Tử. Theo Tu Hành Bản Khởi Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng, Phẩm Giáng Thân (), khi đản sanh, đức Thích Tôn đi bảy bước, đưa tay lên nói rằng: “Thiên Thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, Tam Giới giai khổ, ngô đương an chi (, trên trời dưới đất, chỉ ta trên hết, Ba Cõi là khổ, ta sẽ làm yên).” Ngoài ra, các điển tịch như Vị Tằng Hữu Pháp Kinh () của Trung A Hàm Kinh (, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 8, dị xuất Bồ Tát bản khởi kinh (, Taishō Vol. 3, No. 188), Phẩm Dục Sanh Thời Tam Thập Nhị Thụy () của Phổ Diệu Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 186) quyển 2, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 191) quyển 3, Phẩm Thọ Hạ Đản Sanh () của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 8, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 70, v.v., đều có ghi lại nhiều tướng lạ khác nhau khi đức Thích Tôn hạ sanh. Sau khi trở về cung, Thái Tử được đặt cho tên là Tất Đạt Đa (Sanskrit: Siddhārtha, Pāli: Siddhattha ), hay Tát Bà Tất Đạt (Sanskrit: Sarva-siddhārtha, Pāli: Sabba-siddhattha ), Tát Bà Ngạch Tha Tất Đà (Sanskrit: Sarvārtha-siddha, ), Tát Bà Hạt Thích Tha Tất Đà (), Tất Đạt La Tha (), Tất Đạt (); ý dịch là Nhất Thiết Nghĩa Thành (), Nhất Thiết Sự Thành (), Tài Cát (), Cát Tài (), Thành Lợi (), Nghiệm Sự (), Nghiệm Nghĩa (). Sau khi sanh con được 7 ngày, phu nhân qua đời, Thái Tử được dì Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Sanskrit: Mahāprajāpatī, ) nuôi dưỡng cho đến khi khôn lớn. Theo Phẩm Tập Học Kỷ Nghệ () của Phật Bản Hạnh Tập Kinh quyển 11, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 3, v.v., cho biết rằng thưở thiếu thời Thái Tử từng theo học tập văn chương với Bà La Môn Tỳ Xa Mật Đa (Sanskrit: Viśvamitra, ), học võ nghệ với Sàn Đề Đề Bà (Sanskrit: Kṣāntideva, ), hết thảy đều thông hiểu. Khi trưởng thành, Thái Tử kết hôn với Da Du Đà La (Sanskrit: Yaśodharā, Pāli: Yasodharā ), con gái của Thiện Giác Vương (Sanskrit: Suprabuddha, )—thành chủ của Thiên Tý Thành, hạ sanh La Hầu La (s, Pāli: Rāhula ). Theo Phẩm Du Quán () của Tu Hành Bản Khởi Kinh Quyển Hạ cho biết rằng Thái Tử từng ra bốn cửa thành dạo chơi, thấy các Hình Tượng già, bệnh, chết, vị Sa Môn (Sanskrit: śramaṇa, Pāli: samaṇa ), v.v., thâm cảm được nỗi thống khổ cũng như vô thường của kiếp người, bèn dấy khởi ý chí Xuất Gia tu đạo. Năm lên 29 tuổi (có thuyết cho là 19), nữa đêm Người rời khỏi vương cung, tự cởi bỏ áo mão để trở thành Sa Môn. Ban đầu, Thái Tử cầu đạo với Tiên Nhân Bạt Già Bà (Sanskrit: Bhārgava, ) của nước Tỳ Xá Ly (Sanskrit: Vaiśālī, Pāli: Vesālī ), rồi đến thọ giáo với các hiền giả A La La Ca Lam (Sanskrit: Ārāḍa-kālāma, ), Uất Đà Ca La Ma Tử (Sanskrit: Udraka-rāmaputra, ) ở Thành Vương Xá (Sanskrit: Rājagṛha; Pāli: Rājagaha ). Cuối cùng, Người đến Khổ Hạnh Lâm ở thôn Ưu Lâu Tần La (Sanskrit: Uruvilvā, ) thuộc phương Nam thành Già Da (s, Pāli: Gayā ) của vương quốc Ma Kiệt Đà (s, Pāli: Magadha ), bắt đầu cuộc sống Khổ Hạnh trong vòng 6 năm, và có 5 người Thị Giả do vua Tịnh Phạn phái đến cùng tu. Trong thời gian này, mỗi ngày Người chỉ ăn một hạt mè, một hột lúa mạch, đến nỗi thân hình khô gầy, tâm thể suy kiệt, nhưng cuối cùng vẫn không thành đạo; nên Người mới ngộ được rằng Khổ Hạnh không phải là nhân đạt đến Đạo Quả, bèn rời khỏi khu rừng này. Lúc bấy giờ, 5 người cùng tu ngộ nhận rằng Thái Tử thối thất Đạo Tâm, nên bỏ đi. Thái Tử đến tắm rửa bên dòng sông Ni Liên Thuyền (Sanskrit: Nairañjanā, ), thọ nhận bát sữa cúng dường của cô mục nữ. Sau khi phục hồi thể lực, Người đến dưới cây Tất Bát La (Sanskrit: pippala, ) ở thôn Già Da, lấy cỏ Cát Tường trãi thành tòa Kim Cang, ngồi Kiết Già xoay mặt về hướng Đông, thân ngay thẳng chánh niệm, tâm tĩnh lặng mặc chiếu, tư duy về đạo giải thoát. Sau 49 ngày, vào lúc trời hừng sáng ngày mồng 8 tháng 12, Người hoát nhiên đại ngộ, lúc đó là 35 tuổi (có thuyết cho là 32). Do Nhân Duyên này, cây Tất Bát La được gọi là Bồ Đề Thọ (Sanskrit: bodhivṛkṣa, ). Sự kiện đức Thích Tôn hàng phục Ma Quân, cho đến thành đạo được ghi lại trong các điển tịch như La Ma Kinh () của Trung A Hàm Kinh quyển 56, Lục Niên Cần Khổ Phẩm ()Hàng Ma Phẩm () của Tu Hành Bản Khởi Kinh Quyển Hạ, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, Phật Bản Hạnh Tập Kinh quyển 26~30, Ngũ Phần Luật (, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 15, v.v. Sau khi thành đạo, đức Phật đến vườn Lộc Dã (Sanskrit: Mṛgadāva, Pāli: Migadāya 鹿, tức Lộc Uyển), Thành Ba La Nại (Sanskrit: Vārāṇasī, Pāli: Bārāṇasī ), độ cho 5 vị Thị Giả đã từng cùng tu với Ngài trước đây. Các vị này sau trở thành những Tỳ Kheo nổi tiếng là A Nhã Kiều Trần Như (Pāli: Ājñāta-Kauṇḍinya, Pāli: Aññā-Koṇḍañña ), A Thấp Bà Thị (Sanskrit: Aśvajit, Aśvaka; Pāli: Assaji ), Bạt Đề (Sanskrit: Bhadrika, Pāli: Bhaddiya ), Ma Ha Nam (s, Pāli: Mahānāma ), Bà Sa Ba (Sanskrit: Bāṣpa, Pāli: Vappa , tức Thập Lực Ca Diếp [s: Daśabala-kāśyapa, Pāli: Dasabala-kassapa ]). Liên quan đến sự tích đức Phật lần đầu tiên Chuyển Pháp Luân, Diễn Thuyết Tứ Thánh Đế (Sanskrit: catvāri-āryasatyāni, Pāli: cattāri-ariyasaccāni ), Bát Chánh Đạo (Sanskrit: āryāṣṭāṇga-mārga, Pāli: ariyāṭṭhaṅgika-magga ), v.v., Chuyển Pháp Luân Kinh () của Tạp A Hàm Kinh (, Taishō Vol. 2, No. 99) quyển 15, Ngũ Phần Luật quyển 15, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự quyển 39, v.v., có ký lục đầy đủ. Như trong Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa (, Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 611) quyển 4 có đoạn rằng: “Thích Tôn sơ ư Lộc Uyển, tam chuyển Tứ Đế Pháp Luân, độ tham thị ngũ nhân, nhi Kiều Trần tiên ngộ, dĩ tối sơ Đắc Độ (鹿, đức Thích Tôn ban đầu tại Lộc Uyển, ba lần chuyển bánh xe pháp thuyết Tứ Đế, độ năm người hầu cận Tham Học, mà Kiều Trần Như ngộ trước, là người Đắc Độ đầu tiên).” Sau này, đức Phật tự xưng là Như Lai (s, Pāli: tathāgata ). Có rất nhiều ngữ nghĩa của từ này, nhưng nghĩa chung nhất của nó là “thừa Như Thật chi đạo, nhi Thiện Lai thử Ta Bà Thế Giới (, mang đạo Như Thật mà khéo đến Thế Giới Ta Bà này).” Sau khi Chuyển Pháp Luân lần đâu tiên, đức Thích Tôn đến nước Ma Kiệt Đà, hóa độ 3 anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Sanskrit: Uruvilvā-kāśyapa, ), Na Đề Ca Diếp (Sanskrit: Nadi-kāśyapa, ), Già Da Ca Diếp (Sanskrit: Gayā-kāśyapa, ) của phái Bái Hỏa Giáo () và cả ngàn Đệ Tử của họ. Tiếp theo, Ngài hóa độ Xá Lợi Phất (Sanskrit: Śāriputra, Pāli: Sāriputta )Mục Kiền Liên (Sanskrit: Maudgalyāyana; Pāli: Moggallāna ) thuộc Phái Ngụy Biện của Lục Sư Ngoại Đạo; về sau chính hai vị này trở thành Đệ Tử Thượng Túc của đức Phật. Sau đó, tại Thành Vương Xá, vua Tần Bà Ta La (s, Pāli: Bimbisāra ) quy y theo đức Phật; nhà vua cho xây dựng Tinh Xá trong vườn trúc do Trưởng giả Ca Lan Đà (Sanskrit: Kalanda, ) dâng cúng, lấy tên là Ca Lan Đà Trúc Lâm Tinh Xá (). Đến đây, giáo đoàn Phật Giáo phát triển với thế lực mạnh. Về sau, đức Phật có trở về cố hương Ca Tỳ La Vệ một lần, số người quy y theo rất đông, trong đó có người em cùng cha khác mẹ Nan Đà (s, Pāli: Nanda ), con trai La Hầu La, người em họ Đề Bà Đạt Đa (s, Pāli: Devadatta ), người thợ hớt tóc Ưu Ba Ly (s, Pāli: Upāli ), v.v., mọi người đều xuống tóc Xuất Gia. Ngài Thuyết Pháp cho trưởng giả Tu Đạt Đa (s, Pāli: Sudatta ) ở Thành Xá Vệ (Sanskrit: Śrāvastī, Pāli: Sāvatthī ), nhân đó trưởng giả kiến lập ngôi Đại Tinh Xá trong khu rừng do Thái Tử Kỳ Đà (s, Pāli: Jeta ) tặng, để dâng cúng đức Phật. Đây gọi là Kỳ Hoàn Tinh Xá (Pāli: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, ) hay Kỳ Viên Tinh Xá (). Vào lúc này, vua Ba Tư Nặc (Sanskrit: Prasenajit, Pāli: Pasenadi ) cũng phát tâm quy y với đức Phật. Sau khi vua Tịnh Phạn băng hà, đức Phật lại trở về cố hương lần nữa. Về sau, bà di mẫu Ma Ha Bà Xà Ba Đề (Sanskrit: Mahāprajāpatī, Pāli: Mahāpajāpatī ), công chúa Da Du Đà La (Sanskrit: Yaśodharā, Pāli: Yasodharā ) cũng xuống tóc Xuất Gia, và đây được xem như là khởi đầu cho giáo đoàn Tỳ Kheo Ni (Sanskrit: bhikṣuṇī, Pāli: bhikkhunī ); trong đó Ma Ha Bà Xà Ba Đề là Tỳ Kheo Ni đầu tiên. Từ đó về sau, đức Thích Tôn đi khắp Ấn Độ Thuyết Pháp giáo hóa, bất luận giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, thảy đều được hưởng ân huệ giáo pháp của Ngài. Giáo pháp ấy ảnh hưởng rất lớn đối với văn hóa cũng như tôn giáo Ấn Độ. Sau khi Ngài thành đạo, những nơi Ngài đã từng trãi qua Kết Hạ An Cư, đều được ghi rõ trong Tăng Già La Sát Sở Tập Kinh (, Taishō Vol. 4, No. 194) quyển Hạ. Theo đó, đức Phật đã từng trú qua các nơi như nước Ba La Nại, núi Linh Thứu (Sanskrit: Gṛdhrakūṭa, Pāli: Gijjhakūṭa ), núi Ma Câu La (Sanskrit: Makula, ), Cõi Trời Ba Mươi Ba, cõi Quỷ Thần, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc () ở Thành Xá Vệ, Chá Lê Sơn (), v.v. Theo Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (, Taishō Vol. 32, No. 1685), đức Phật từng tu Khổ Hạnh trên núi Tuyết Sơn, sau từng sống tại rừng Tỳ Sa (), đỉnh núi Nhã Lí (), các tụ lạc Đại Dã (Sanskrit: Aḷāvī, ), Mao Nỗ (), v.v. Hơn nữa, học giả Anh quốc T.W. Rhys Davids (1843-1922) căn cứ vào tích truyện Phật Giáo của Tích Lan, Miến Điện, bản Pháp Cú Kinh chú (Pāli: Dhammapada atthakathā, ) tiếng Pāli, v.v., cho rằng sau khi kiến lập vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, đức Phật đã từng trú tại Đại Lâm (Pāli: Mahā-vana, ) của Thành Tỳ Xá Ly (Sanskrit: Vaiśāli, ), núi Ma Câu La, Tăng Ca Xá (Pāli: Saṅkissa, ), Ba Lợi Lôi Nhã Tạp (Sanskrit: Parileyyaka, ), Mạn Đặc Lạt (Pāli: Mantala, ), v.v. Ngoài ra, Đại Trí Độ Luận (, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 3, Phân Biệt Công Đức Luận (, Taishō Vol. 25, No. 1507) quyển 2, Cao Tăng Pháp Hiển Truyện (, Taishō Vol. 51, No. 2085), v.v., cũng có ký lục như vậy. Tổng hợp các tư liệu trên, chúng ta có thể suy ra rằng địa phương hoằng pháp của đức Phật phần lớn tập trung tại hai thành Xá Vệ và Vương Xá. Về những sinh hoạt cuối đời của Ngài, Tăng Nhất A Hàm Kinh (, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 26, Phật Thuyết Nghĩa Túc Kinh (, Taishō Vol. 4, No. 198) quyển Hạ, Xuất Diệu Kinh (, Taishō Vol. 4, No. 212) quyển 16, Tỳ Ni Mẫu Kinh (, Taishō Vol. 24, No. 1463) quyển 4, Ngũ Phần Luật quyển 3, 21, 25, Tứ Phần Luật (, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 46, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự quyển 13, 14, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 2, v.v., có ký lục rõ ràng. Lúc bấy giờ, Đề Bà Đạt Đa muốn bức bách đức Phật phải nhường lại giáo đoàn Tăng Chúng cho ông, nhưng ý đồ không thành, bèn phá tăng hoại Phật. Thêm vào đó, vua Lưu Ly (), con của vua Ba Tư Nặc, sau khi tức vị, tấn công Thành Ca Tỳ La Vệ, cố hương của đức Phật, diệt vong dòng họ Thích Ca. Vào năm cuối cùng khi đức Phật còn tại thế, Ngài rời nước Ma Kiệt Đà, đi về phía Bắc Sông Hằng, kinh qua Tỳ Xá Ly, đến Thành Ba Bà (Sanskrit: Pāvā, ), thọ nhận bữa cơm cúng dường của người thợ vàng Thuần Đà (s, Pāli: Cunda ), và nhân vì ăn loại nấm Tô Ca Lạp Ma Đạt Phạt (Sanskrit: sūkaramaddava, , tức nấm cây Chiên Đàn) mà mắc bệnh. Trước khi Lâm Chung, Ngài đến tắm lần cuối cùng tại dòng sông Câu Tôn (Pāli: Kakuṭṭha, ), rồi đến rừng Sa La Song Thọ () ở Thành Câu Thi Na (Sanskrit: Kuśinagara, Pāli: Kusinagara ), đầu xoay về hướng Bắc, mặt hướng phía Tây, nằm thế Cát Tường. Vào nữa đêm, Ngài để lại lời giáo huấn cuối cùng cho chúng Đệ Tử, rồi sau đó thì An Nhiên Nhập Diệt. Ban đầu, di cốt của đức Thích Tôn được an trí tại Thiên Quan Tự (Sanskrit: Makuṭabandhana-cetiya, ) của bộ tộc Mạt La (s, Pāli: Malla ), sau đó hỏa táng. Khi tham gia lễ Trà Tỳ có sứ đoàn của 8 nước, gồm Câu Thi Na Yết La (), Ba Bà (), Giá La (), La Ma Già (), Tỳ Lưu Đề (), Ca Tỳ La (), Tỳ Xá Ly (), Ma Kiệt Đà (), v.v., do vấn đề phân phối Xá Lợi (Sanskrit: śarīra, Pāli: sarīra ) mà nảy sinh đấu tranh lẫn nhau. Sau đó, nhờ sự điều đình của Bà La Môn Hương Tính (Sanskrit: Doṇa, ) mà được yên ổn, cho nên người này có được bình Xá Lợi. Từ đó, mỗi nước dựng tháp cúng dường, và đây là phát xuất của truyền thống thập tháp (10 ngôi tháp) ngày nay. Năm đức Phật Nhập Diệt, tại Hang Thất Diệp (Sanskrit: Sapta-parṇa-guhā, ) của Thành Vương Xá, cuộc Kết Tập Kinh Điển lần đầu tiên được tiến hành. Đương thời, Ma Ha Ca Diếp (Sanskrit: Mahākāśyapa, Pāli: Mahākassapa ) là người triệu tập chủ yếu; A Nan (s, Pāli: Ānanda )Ưu Ba Ly (s, Pāli: Upāli ) thì tụng đọc các Kinh Luật của Phật Thuyết trên cơ sở từng được nghe qua, rồi được đại chúng thảo luận, hiệu đính để trở thành tiêu chuẩn cho Kinh Luật đời sau. Về sau, trãi qua biết bao biến thiên, giáo pháp của đức Thích Tôn được phân thành hai hệ thống chính, truyền bá khắp nơi: Nam Truyền chủ yếu là tiếng Pāli và Bắc Truyền chủ yếu là Kinh Điển Hán dịch. Liên quan đến năm tháng xác thật đức Phật đản sanh, Xuất Gia, thành đạo, lần đầu Chuyển Pháp Luân, tuổi thọ, Nhập Diệt, v.v., trong Kinh Điển có nhiều thuyết khác nhau. Về tuổi thọ, có 4 thuyết chính: (1) Tam Thế Đẳng Phẩm () của Bồ Tát Tùng Đâu Thuật Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ Kinh (, Taishō Vol. 12, No. 384, tức Bồ Tát Xử Thai Kinh []) quyển 23 cho là thọ 84 tuổi. (2) Bát Nê Hoàn Kinh (, Taishō Vol. 1, No. 6) quyển Hạ cho là 79 tuổi. (3) Thọ Lượng Phẩm () của Kim Quang Minh Kinh (, Taishō Vol. 16, No. 663) quyển 1, Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (, Taishō Vol. 32, No. 1685), Đại Bát Niết Bàn Kinh (Pāli: Mahāparinibbāna-sutta, ) bản tiếng Pāli, truyền thống của Miến Điện, v.v., cho là
80. (4) A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 126 cho là hơn
80. Về niên đại đản sanh của Ngài, học giả hiện đại cũng có nhiều suy định khác nhau. Học giả Nhật Bản Vũ Tỉnh Bá Thọ (, Ui Hakuju, 1882-1963) cho rằng năm Phật đản sanh là 466 trước CN. Trung Thôn Nguyên (, Nakamura Hajime, 1912-1999) cũng ý cứ vào thuyết này, sau lấy sử liệu mới phát hiện của Hy Lạp, sau khi khảo chứng thì cho là năm 463 trước CN. Về ngày tháng đản sanh của đức Phật, có 5 thuyết khác nhau. (1) Trường A Hàm Kinh (, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Phật Bản Hạnh Tập Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 7, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa (, Taishō Vol. 23, No. 1440) quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng
2. (2) Bồ Tát Giáng Than Phẩm () của Tu Hành Bản Khởi Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng cho là ngày mồng 7 hay 8 tháng
4. (3) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 185) quyển Thượng, Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 188), Sanh Phẩm () của Phật Sở Hành Tán (, Taishō Vol. 4, No. 192) quyển 1, Phật Thuyết Thập Nhị Du Kinh (, Taishō Vol. 4, No. 195), Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh (, Taishō Vol. 16, No. 695), v.v., thì cho là ngày mồng 8 tháng
4. (4) Điều Kiếp Tỷ La Phạt Tốt Đổ Quốc () của Đại Đường Tây Vức Ký (西, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 6 thì cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (5) Thượng Tọa Bộ () cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng Xuất Gia của đức Phật, có 5 thuyết. (1) Trường A Hàm Kinh cho là ngày mồng 8 tháng
2. (2) Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 2 cho là ngày mồng 7 tháng
2. (3) Xuất Gia Phẩm () của Tu Hành Bản Khởi Kinh Quyển Hạ cho là ngày mồng 7 tháng
4. (4) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh quyển Thượng, Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh, v.v., cho là mồng 8 tháng
4. (5) Bản Sanh Kinh Phật Truyện () bản tiếng Pāli cho là ngày thứ 15 của tháng A Sa Trà (Sanskrit: Āsāḷhā, ). Về ngày tháng thành đạo của Ngài, có 4 thuyết. (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng
2. (2) Bản Đại Sử (Pāli: Mahāvaṃsa, ) tiếng Pāli cho là ngày trăng tròn tháng Vesākhā. (3) Đại Đường Tây Vức Ký quyển 8 cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Thượng Tọa Bộ cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng lần đầu tiên Chuyển Pháp Luân, có 2 thuyết. (1) Bồ Tát Xử Thai Kinh Quyển 7 cho là ngày mồng 8 tháng
2. (2) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 182 cho là ngày mồng 8 của tháng Ca Lật Để Ca (Sanskrit: Kārttika, , hay Ca Hi Na []). Về ngày tháng Nhập Diệt của Ngài, có 6 thuyết khác nhau. (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4 cho là ngày mồng 8 tháng
2. (2) Đại Bát Niết Bàn Kinh (, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 1, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa quyển 1, v.v., cho là ngày 15 tháng
2. (3) Bài tựa của Nhất Thiết Thiện Kiến Luật (Pāli: Samantapāsādikā, ) bản tiếng Pāli, Luật Tạng (Pāli: Vinaya-piṭaka, ) tiếng Pāli, chương thứ 3 của Đại Sử, Điều Câu Thi Na Yết La Quốc () của Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6, v.v., cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2 cho là ngày mồng 8 tháng
8. (5) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 191, Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6 viện dẫn truyện của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sanskrit: Sarvāstivādin, Pāli: Sabbatthivādin ), cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Ca Lật Để Ca. (6) Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh cho là ngày mồng 8 tháng
4. Bên cạnh đó, liên quan đến niên đại Nhập Diệt của đức Thích Tôn, cũng có nhiều thuyết bất đồng. Như học giả Vũ Tỉnh Bá Thọ của Nhật thì chủ trương là năm 386 trước CN. Tiến Sĩ Trung Thôn Nguyên cho là năm 383 trước CN. Pháp sư Ấn Thuận (, 1906-2005) của Trung Hoa thì chủ trương năm 390 trước CN. Tổng hợp tất cả những thông tin vừa nêu trên, ngày tháng đản sanh, Xuất Gia, thành đạo của đức Phật có thể phân thành 3 thuyết chính: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 8 tháng 4, (3) ngày 15 tháng
2. Ngày tháng Nhập Diệt cũng được chia thành 3 thuyết: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 15 tháng 2, (3) ngày 8 tháng
8. Ngoài ra, Nhị Giáo Luận () của Đạo An (, 312[314]-385) nhà Bắc Chu, Câu Xá Luận Bảo Sớ () quyển 1, v.v., so sánh tháng của lịch Ấn Độ và lịch Trung Quốc, cho rằng tháng 2 của Ấn Độ tương đương với tháng 4 của Tàu. Thêm vào đó, vào ngày mồng 1 mỗi tháng của lịch Ấn Độ thì tương đương với ngày 16 âm lịch của Trung Quốc; ngày cuối tháng thì tương đương với ngày 15 của tháng kế tiếp theo lịch của Trung Quốc.