Phiên Dịch Gia
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi: Dịch sư, Dịch Kinh gia. Chỉ cho các nhà Phiên Dịch Kinh Điển Phật giáo. Như vào thế kỉ V, ngài Phật Âm (Phạm: Buddhaghowa) đã biên dịch các sách chú thích Tam Tạng bằng tiếng Tích lan sang tiếng Pàli, đó là nhà Phiên Dịch nổi tiếng. Về phương diện Dịch Kinh Phật ra chữ Hán thì có các nhà Phiên Dịch quan trọng sau đây: Ngài An Thế Cao (người An tức) đời Hậu Hán, ngài Chi Khiêm (người Nguyệt chi) đời Ngô thời Tam Quốc, ngài Trúc Pháp Hộ (người Đôn hoàng) đời Tây Tấn, ngài Cưu Ma La Thập (người Cưu tư) đời Hậu Tần, ngài Cầu Na Bạt Đà La (người Trung Ấn Độ) đời Lưu Tống, ngài Chân Đế (người Tây bắc Ấn Độ) đời Lương + Trần, ngài Bồ Đề Lưu Chi (người Bắc Ấn Độ) đời Bắc Ngụy, ngài Xà na quật đa (người Bắc Ấn Độ) đời Trần + Tùy, ngài Huyền Trang (người Trung Quốc) đời Đường, ngài Địa Bà Ha La (người Trung Ấn Độ) đời Đường, ngài Thực xoa Nan Đà (người Vu điền) đời Đường, ngài Nghĩa Tịnh (người Trung Quốc) đời Đường, ngài Kim Cương Trí (người Nam Ấn Độ) đời Đường, ngài Thiện Vô Úy (người Trung Ấn Độ) đời Đường, ngài Bất Không (người Bắc Ấn Độ) đời Đường, ngài Pháp Thiên (người Trung Ấn Độ) đời Bắc Tống, ngài Thiên tức tai (tức Pháp hiền, người Ca thấp di la) đời Bắc Tống, ngài Thí Hộ (người Ô điền nẵng) đời Bắc Tống. Những vị này đều là các bậc thông hiểu 3 tạng Kinh Điển, cho nên cũng được gọi là Dịch Kinh Tam Tạng, Tam Tạng Pháp Sư. Về Kinh Điển được dịch sang tiếng Tây tạng thì có các nhà Phiên Dịch nổi tiếng sau đây: Thon-mi-sambhoỉa (Đoan Mĩ Tam Bồ Đề) thế kỉ VII;Jinamitra (Thắng Hữu – người Ấn Độ) thế kỉ IX,Zìlendrabodhi (Giới đế giác – người Ấn Độ) thế kỉ IX, Surendrabodhi (Cát Tường đế giác – người Ấn Độ) thế kỉ IX, Ye-zes-sdethế kỉ IX, Bloldan zes-rab thế kỉ XI, Mar-pa thế kỉ XIV, Zes rab rin-chen, Cho-skyoí-bzaí-po và Chos rgyal thế kỉ XV.