Vạn Tự

《卍字》 wàn zì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chữ Vạn, còn viết là ; nguyên ngữ tiếng Sanskrit là śrīvatsalakṣana, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa Lạc Sát Nang (), ý dịch là Cát Tường Hải Vân (), Cát Tường Hỷ Toàn (), là một trong 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Phật, là đức tướng thường hiển hiện nơi ngực của chư Phật cũng như các Bồ Tát Chứng Quả Thập Địa (Sanskrit: daśa-bhūmi, ). Đây cũng là một loại phù hiệu thường thấy ở các tượng Phật cũng như văn vật Phật Giáo. Một số Kinh Điển Phật Giáo nêu rõ vị trí của chữ Vạn như Đại Bổn Kinh () của Trường A Hàm Kinh (, Taishō No. 1) quyển 1 cho biết rằng chữ Vạn thuộc tướng tốt thứ 16: “Thập lục, hung hữu Vạn Tự (, thứ mười sáu, trên ngực có chữ Vạn).” Hay Đại Tát Già Ni Càn Tử Sở Thuyết Kinh (, Taishō No. 272) quyển 6 cũng cho hay rằng: “Sa Môn Cù Đàm hung hữu Vạn Tự thị Công Đức tướng (, nơi ngực của Sa Môn Cù Đàm có chữ Vạn, thể hiện tướng Công Đức).” Trong Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh () quyển 3 giải thích rằng trong 80 vẻ đẹp của đức Phật thì chữ Vạn thuộc về vẻ đẹp thứ 78, thường thấy ở trên tóc: “Phát hữu ngũ Vạn Tự (, tóc có năm chữ Vạn).” Thập Địa Kinh Luận () quyển 12 nêu rõ rằng khi Thái Tử Tất Đạt Đa (Sanskrit: Siddhārtha, Pāli: Siddhattha ) chưa Thành Phật, nơi ngực người có chữ Vạn Kim Cang Công Đức Trang Nghiêm. Trong khi đó, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự () quyển 29 cho hay rằng nơi lưng của Phật có tướng chữ Vạn. Bên cạnh đó, Đại Bát Nhã Ba La Mật Kinh () quyển 381 cho biết chữ Vạn nằm nơi ngực cũng như tay chân của đức Thế Tôn. Vào thời cổ đại Ấn Độ, chữ Vạn tượng trưng cho sự tốt đẹp. Ngoài đất nước này, Ba Tư, Hy Lạp đều có loại phù hiệu này, thông thường được xem như tượng trưng cho mặt trời, điện quang, lửa, dòng nước chảy, v.v. Xưa kia, Phật Giáo, Bà La Môn Giáo, Kỳ Na Giáo đều có sử dụng chữ Vạn. Người Ấn Độ cổ đại cho rằng phù hiệu chữ Vạn này hiện hữu nơi sợi lông xoăn ở ngực của Phạm Thiên, thần Viṣṇu, Kṛṣṇa, rộng khắp thể hiện tướng Cát Tường, thanh tịnh, viên mãn. Trong Phật Giáo, chữ Vạn là tướng Cát Tường ở nơi ngực của đức Phật cũng như chư vị Bồ Tát Chứng Quả Thập Địa, về sau dần dần trở thành dấu hiệu tiêu biểu cho Phật Giáo. Về tiếng Hán dịch của chữ này, xưa nay có vài thuyết khác nhau. Cưu Ma La Thập (Sanskrit: Kumārajīva, , 344-413), Huyền Trang (, 602-664), v.v., thì dịch là “đức ()”. Trong Thập Địa Kinh Luận (), Bồ Đề Lưu Chi (Sanskrit: Bodhiruci, , 562-727) dịch là “vạn ()” với ý nghĩa “vạn đức viên mãn (滿)”. Trong Tống Cao Tăng Truyện () quyển 3, chữ này được dịch âm là vạn, nhưng không có ý dịch. Cho đến năm thứ 2 (693) niên hiệu Trường Thọ () của Võ Tắc Thiên (, 624-705), Hoàng Hậu bắt đầu quy định chữ này đọc là “vạn”, với ý nghĩa là “tập trung vạn đức tốt lành”. Tiếng Phạn ngữ của chữ Vạn () không phải chỉ có một, tỷ dụ như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh () có đến 17 chỗ xuất hiện chữ này, đều dịch là vạn; nhưng nếu lấy nguyên ngữ đối chiếu, nguyên ngữ của chữ này có 4 loại: (1) śrīvatsa, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa (), ý dịch là Cát Tường Ức (), Cát Tường Độc (); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 48 (Taishō No. 10) có đoạn: “Như Lai hung ức hữu đại Nhân Tướng, hình như Vạn Tự, danh Cát Tường hải vân (, nơi ngực của đức Như Lai có tướng của bậc đại nhân, hình như chữ Vạn, tên là mây biển tốt lành).” Trong đó, nguyên ngữ chữ Vạn là śrīvatsa, ý chỉ cho lông tóc xoắn quanh, chồng lên nhau như hình dạng đám mây biển. (2) nandy-āvarta, âm dịch là Nan Đề Ca Vật Đa (), ý dịch là Hỷ Toàn (); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Kỳ phát Hữu Toàn, quang tịnh nhuận trạch, Vạn Tự nghiêm sức (, tóc của Ngài xoay về bên phải, ánh sáng thanh tịnh, thấm khắp, chữ Vạn làm cho Trang Nghiêm).” Chữ Vạn trong câu này là nandy-āvarta, chỉ cho tướng tóc của Phật xoay về bên phải. (3) svastika, âm dịch là Tắc Phạ Tất Để Ca (), ý dịch là Hữu Lạc (). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện Nhất Thiết Chúng Sanh đắc như Vạn Tự phát, loa văn Hữu Toàn phát (, nguyện hết thảy Chúng Sanh đều được như mái tóc có chữ Vạn, mái tóc xoay về bên phải theo hình trôn ốc).” Chữ Vạn trong câu này là svastika, có hàm nghĩa “có niềm An Lạc”. (4) pūrṇaghaṭa, âm dịch là Nang Già Tra (), ý dịch là Tăng Trưởng (). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện Nhất Thiết Chúng Sanh đắc Luân Tướng chỉ, Chỉ Tiết viên mãn, văn tướng Hữu Toàn, nguyện Nhất Thiết Chúng Sanh đắc như Liên Hoa Vạn Tự toàn chỉ (滿, nguyện cho hết thảy Chúng Sanh có ngón tay tướng bánh xe tròn, kẻ ngón tay tròn đầy, hoa văn tay xoay về bên phải, nguyện cho hết thảy Chúng Sanh có được ngón tay chữ Vạn như hoa sen).” Nguyên ngữ chữ Vạn trong câu này là pūrṇaghaṭa, chỉ hình tướng đầu bộ hay các kẻ ngón tay tròn đầy. Từ xa xưa, chữ Vạn đã có sự khác nhau về phương hướng xoay có nó. Trong Ấn Độ Giáo, các vị thần nam tánh thường dùng chữ Vạn (, hướng về bên phải) và thần nữ tánh thì dùng chữ Vạn (, hướng về bên trái). Đối với Phật Giáo, hiện tồn tại ngôi cổ tháp ở Vườn Lộc Uyển (Sanskrit: Mṛgadāva, Pāli: Migadāya 鹿) là chữ Vạn (). Ngôi tháp này được kiến tạo dưới thời A Dục Vương (Sanskrit: Aśoka, Pāli: Asoka ) để kỷ niệm đức Phật xưa kia đã từng Nhập Định tại đây. Tại Tây Tạng, phần lớn các giáo đồ của Lạt Ma Giáo đều dùng chữ Vạn (). Tại Trung Quốc, trãi qua các đời đều dùng cả hai. Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh () của Nhật Bản thì lấy chữ Vạn () làm tiêu chuẩn; tuy nhiên, các bản Đại Tạng Kinh của nhà Tống, Nguyên, Minh đều dùng chữ Vạn (). Gần đây, vào khoảng thập niên 40 của thế kỷ 20, Đức Quốc Xã Hitler có dùng đến chữ Vạn (). Và cho đến nay, vẫn còn khá nhiều tranh luận về chiều xoay của chữ này theo quan điểm của Phật Giáo.