Thiền Tông

《禪宗》 chán zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: lược xưng của Tọa Thiền Tông (, Zazen-shū), còn gọi là Phật Tâm Tông (), Đạt Ma Tông (), Vô Môn Tông (); chỉ Tông Phái của Phật Giáo Đại Thừa, lấy Bồ Đề Đạt Ma (Sanskrit: Bodhidharma, , ?-495, 346-495, ?-528, ?-536) làm sơ Tổ, Tham Cứu bản nguyên của Tâm Tánh với yếu chỉ “kiến tánh Thành Phật (, thấy tánh Thành Phật)”, Chuyên Tu Ngộ Đạo theo Thiền pháp của Đạt Ma truyền thừa. Đây là một trong 13 Tông Phái của Phật Giáo Trung Quốc, và cũng là một trong 13 Tông Phái của Phật Giáo Nhật Bản. Từ ngày xưa ở Trung Quốc hệ thống của những người Chuyên Tu tọa Thiền được gọi chung là Thiền Tông; vì thế trong đó ngoài Đạt MaTông ra, còn có Thiên Thai TôngTam Luận Tông, nhưng từ giữa thời nhà Đường trở đithì chỉ có Đạt MaTông mới được gọi là Thiền Tông mà thôi. Theo truyền thuyết cho rằng ngày xưa khi đức Phật Thích Ca đang ở trên Hội Linh Sơn, lúc ấy ngài cầm cành hoa Kim Ba La Hoa () do Chư Thiên đem dâng cúng, đưa ra trước hội chúng hơn 80.000 người. Đại chúng hết thảy đều ngẩn ngơ im lặng mà không thể nào hiểu được thâm ý của đức Như Lai Thế nào. Khi ấy chỉ có một mình tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Sanskrit: Mahākāśyapa, ) mĩm cười mà thôi. Thấy vậy đức Phật bảo với tôn giả rằng: “Ngã hữu chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thật Tướng Vô Tướng, Phó Chúc dữ nhữ (, ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thật Tướng Không Tướng, Phó Chúc cho ngươi)”, và truyền trao chánh pháp cho vị này. Đây được xem như là khởi nguyên của Thiền Tông. Câu chuyện này được ghi lại trong Phẩm Niêm Hoa () thứ 2 của Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (, Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 27) và không phải là sự thật mang tính lịch sử. Thế nhưng ở Trung Quốc, Thiền từ thời Lục Tổ trở đi thì chú trọng đến vấn đề gọi là “dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền ()”, nên câu chuyện phú pháp tương thừa của Ca Diếp cũng được xem trọng. Ca Diếp sau đó Truyền Pháp này lại cho A Nan (Sanskrit: Ānanda, ), từ A Nan đến Thương Na Hòa Tu (Sanskrit: Śāṇakavāsa,), Ưu Bà Cúc Đa (Sanskrit: Upagupta, ), Đề Đa Ca (Sanskrit: Dhṛtaka, ), Di Giá Ca (Sanskrit: Miccaka, ), Bà Tu Mật (Sanskrit: Vasumitra, ), Phật Đà Nan Đề (Sanskrit: Buddhanandi, ), Phục Đà Mật Đa (Sanskrit: Buddhamitra, ), Ba Lật Thấp Bà (Sanskrit: Pārśvika, ), Phú Na Dạ Xà (Sanskrit: Puṇyayaśas, ), A Na Bồ Đề (Sanskrit: Aśvaghoṣa, , tức Mã Minh []), Ca Tỳ Ma La (Sanskrit: Kapiñdjala, ), Na Già Yên Thích Thọ Na (Sanskrit: Nāgārjuna, , tức Long Thọ []), Ca Na Đề(Sanskrit: Kāṇadeva, , tức Thánh Thiên []), La Hầu La Đa (Sanskrit: Rāhulata, ), Tăng Già Nan Đề (Sanskrit: Sañghānandi, ), Ca Da Xá Đa (Sanskrit: Gayāśata, ), Cưu Ma La Đa (Sanskrit: Kumāralabdha, ), Xà Dạ Đa (Sanskrit: Gayata, ), Bà Tu Bàn Đầu (Sanskrit: Vasubandhu, , tức Thế Thân []), Ma Nã La (Sanskrit: Manorhita, ), Hạc Lặc Na (Sanskrit: Haklenayaśas, ), Sư Tử Bồ Tát (Sanskrit: Siṁhabhikśu, ), Bà Xá Tư Đa (Sanskrit: Basiasita, ), Bất Như Mật Đa (Sanskrit: Purjamitra, ), Bát Nhã Đa La (Sanskrit: Prajñātara, ), cho đến Bồ Đề Đạt Ma (Sanskrit: Bodhidharma, ) như vậy là 28 vị tổ tương thừa, được gọi là Tây Thiên Nhị Thập Bát Tổ (西, Hai Tám Vị Tổ Ấn Độ). Sau khi Bồ Đề Đạt Ma sang miền Đông Độ Trung Hoa thì truyền lại cho Huệ Khả (), rồi Huệ Khả truyền thừa kế tiếp cho Tăng Xán (), Đạo Tín (), Hoằng Nhẫn () cho đến Huệ Năng (). Đây được gọi là Đông Độ Lục Tổ (, Sáu Vị Tổ Trung Hoa). Cụ thể, vào trong khoảng niên hiệu Phổ Thông (, 520-527) đời vua Võ Đế (, tại vị 502-449) nhà Lương, Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Nam Thiên Trúc () đến Kiến Nghiệp (, Nam Kinh [] ngày nay), truyền tông này vào Trung Hoa; nên được gọi là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa. Ban đầu, Đại Sư đến yết kiến vua Lương Võ Đế, nhưng không khế hợp Cơ Duyên, bèn vào Thiếu Lâm Tự () ở Tung Sơn () ngồi xoay mặt vào tường 9 năm; vì vậy người đời gọi Đại Sư là Bích Quán Bà La Môn (). Kế đến, Thần Quang (, tức Huệ Khả []) đứng ngoài tuyết lạnh chặt cánh tay dâng lên để bày tỏ ý chí cầu đạo, cuối cùng được Tổ Sư Đạt Ma truyền Tâm Ấn cho, làm Tổ thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa. Huệ Khả truyền cho Tăng Xán (); Tăng Xán truyền cho Đạo Tín () và làm cho tong này hưng thịnh. Môn hạ của Đạo Tín có hai nhân vật kiệt xuất là Hoằng Nhẫn () và Pháp Dung (). Môn hạ của Pháp Dung thì có Trí Nghiễm (), Huệ Phương (), Pháp Trì (), v.v. Vì pháp hệ này trú tại Ngưu Đầu Sơn () ở Kim Lăng (), Thế Gian gọi là Ngưu Đầu Thiền () với yếu chỉ là “dục đắc tâm tịnh, vô tâm dụng công (, muốn được tâm tịnh, dụng công với vô tâm).” Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trú tại Hoàng Mai Sơn (), Kì Châu (, Hồ Bắc []), xiển dương áo chỉ của Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh (Sanskrit: Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, ); có một số môn đệ xuất sắc như Ngọc Tuyền Thần Tú (), Đại Giám Huệ Năng (), Tung Sơn Huệ An (), Mông Sơn Đạo Minh (), Tư Châu Trí Tiển (), v.v. Trong số đồ chúng của Ngũ Tổ, Thần Tú được xem như là Thượng Thủ, nên gọi là Tú Thượng Tọa (). Sau khi Ngũ Tổ qua đời, Thần Tú chấn tích ở phương Bắc, vì vậy có tên là Bắc Tú (); được tôn xưng là Tổ của Bắc Tông Thiền (). Thiền phái này lấy Trường An (), Lạc Dương () làm trung tâm, xiển dương đạo pháp và hưng thịnh trong vòng khoảng 100 năm. Môn hạ của Thần Tú có Tung Sơn Phổ Tịch (), Kinh Triệu Nghĩa Phước (), v.v., truyền thừa được 4, 5 đời thì tuyệt dứt. Ngoài ra, Tung Sơn Huệ An khai sáng Lão An Thiền (); còn Tư Châu Trí Tiển thì Cổ Xướng Nam Tiển Thiền (). Về trường hợp Đại Giám Huệ Năng, nhân một bài kệ mà được Ngũ Tổ Ấn Khả, truyền cho ý bát, kế thừa làm Lục Tổ. Sau đó, sư đi lánh nạn ở phương Nam, trú tại Tào Khê (), Thiều Dương (, Quảng Đông []), cử xướng Thiền Phong, được tôn sùng là Tổ của Nam Tông Thiền (). Vì Tông Phong của Nam Tông và Bắc Tông có khác nhau, nên có thuyết Nam Đốn Bắc Tiệm (). Đệ Tử nối dòng pháp của Huệ Năng có hơn 40 người; các nhân vật trứ danh phải kể đến là Nam Nhạc Hoài Nhượng (), Thanh Nguyên Hành Tư (), Nam Dương Huệ Trung (), Vĩnh Gia Huyền Giác (), Hà Trạch Thần Hội (), v.v. Trong đó, Hà Trạch Thần Hội thì khai sáng Hà Trạch Tông (), tận lực Đề Xướng Pháp Môn Đốn Ngộ, lấy “nhất niệm bất khởi (, một niệm không dấy khởi)” để ngồi, và “liễu kiến bản tánh (, thấy rõ bản tánh)” để Thiền. Nam Nhạc Hoài Nhượng thọ Tâm Ấn từ Lục Tổ, đến trú tại Bát Nhã Tự (), tiếp hóa đồ chúng trong vòng 30 năm; kế thừa dòng pháp có 9 vị và Mã Tổ Đạo Nhất () được xem như là bậc nhất. Về sau, Mã Tổ cử xướng Thiền pháp tại Cung Công Sơn (), Giang Tây (西), cơ Phong Sắc bén, khai sáng Thiền Phong đánh hét độc đáo, được Thế Gian gọi là Hồng Châu Tông (). Mã Tổ chủ trương rằng những hoạt động thường ngày như khởi tâm động niệm, dương lông mày, chớp mắt, v.v., đều là Phật tánh; nên có thuyết gọi là “kiến tánh thị Phật (, thấy tánh là Phật)” hay “tánh tại Tác Dụng (, tánh ở nơi Tác Dụng).” Môn hạ của Mã Tổ có hơn 100 người, có các Thiền kiệt xuất như Bách Trượng Hoài Hải (), Nam Tuyền Phổ Nguyện (), Tây Đường Trí Tàng (西), Đại Mai Pháp Thường (), Chương Kính Hoài Huy (), Đại Châu Huệ Hải (), v.v. Kể từ khi Hoài Hải sáng kiến Thiền sát, lập ra Thanh Quy, Thiền Tông bắt đầu thoát ly khỏi chế độ các Thiền tăng phải nương náu vào chùa Luật Tông. Môn lưu của Bách Trượng có Hoàng Bá Hy Vận (), Quy Sơn Linh Hựu (), v.v. Đệ Tử của Hy Vận thì có Lâm Tế Nghĩa Huyền (). Sau này, Nghĩa Huyền chủ xướng ra Tam Huyền Tam Yếu (), Tứ Liệu Giản (), v.v., để tiếp hóa đồ chúng, Cơ Phong nghiêm mật; Môn Đồ theo rất đông, hình thành Lâm Tế Tông (). Lúc bấy giờ thuộc cuối thời nhà Đường. Đến nhà Tống, từ Lâm Tế Nghĩa Huyền kinh qua Hưng Hóa Tồn Tương (), Nam Viện Huệ Ngung (), Phong Huyệt Diên Chiểu (), Thủ Sơn Tỉnh Niệm (), Phần Dương Thiện Chiểu (), truyền cho đến Thạch Sương Sở Viên (). Trong khi đó, môn hạ Hoàng Long Huệ Nam (), Dương Kì Phương Hội () lại hình thành hai phái Hoàng Long và Dương Kì, cùng tồn tại với Tào Động (), Vân Môn (). Riêng Quy Sơn Linh Hựu thì trú tại Đàm Châu (, Hồ Nam []), người đến Tham Học lên đến 1.500; trong đó, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch () là nổi tiếng nhất, được gọi là Quy Ngưỡng Tông (). Môn hạ của Thanh Nguyên Hành TưThạch Đầu Hy Thiên (), soạn bản Tham Đồng Khế (); cùng với Mã Tổ được gọi là hai bậc Long Tượng vĩ đại. Đệ Tử của Thạch Đầu lại có Dược Sơn Duy Nghiễm (), Đơn Hà Thiên Nhiên (), Thiên Hoàng Đạo Ngộ (). Hệ phái của Dược Sơn xuất hiện Vân Nham Đàm Thịnh (), Động Sơn Lương Giới (), Vân Cư Đạo Ưng (), Tào Sơn Bổn Tịch (), v.v., hình thành nên Tào Động Tông (). Thiên Hoàng Đạo Ngộ thì truyền xuống 3 đời đến Tuyết Phong Nghĩa Tồn (), chấn tích ở Tuyết Phong Sơn (), Phúc Châu (); Từ Pháp có hơn 50 vị; trong số đó có Vân Môn Văn Yển () là người phát huy Thiền Phong độc diệu, hình thành nên Vân Môn Tông (). Bên cạnh đó, có Huyền Sa Sư Bị (), truyền xuống cho La Hán Quế Sâm (), Pháp Nhãn Văn Ích (). Văn Ích trú tại Thanh Lương Tự (), Kim Lăng (), khai sáng Pháp Nhãn Tông (). Hệ thống này có các Cao Tăng như Thiên Thai Đức Thiều (), Vĩnh Minh Diên Thọ (), Vĩnh An Đạo Nguyên (), v.v. Trong đó, Đức Thiều được xem như là Trí Khải tái lai; Diên Thọ thì soạn bộ Tông Kính Lục (), xem trọng giáo học; còn Đạo Nguyên thì viết bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (), làm sáng tỏ hệ phổ của Đạt Ma Thiền. Trừ các Tông Phái đã nêu trên, theo Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (, Taishō Vol. 48, No. 2015) của Khuê Phong Tông Mật () cho biết, các giáo phái Thiền Tông dưới thời nhà Đường có Hồng Châu (), Hà Trạch (), Bắc Tú (), Nam Tiển (), Ngưu Đầu (), Thạch Đầu (), Bảo Đường (), Tuyên Thập (, Thiền Niệm Phật), Huệ Trù (), Cầu Na (), Thiên Thai (), v.v. Trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao (, Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 245) của Tông Mật có nêu ra 7 tông là Bắc Tông Thiền (), Trí Tiển Thiền (), Lão An Thiền (), Nam Nhạc Thiền (), Ngưu Đầu Thiền (), Nam Sơn Niệm Phật Môn Thiền (), Hà Trạch Thiền (), v.v. Chủ yếu, từ Đạt Ma cho đến Huệ Năng, trong vòng khoảng 250 năm, Thiền Phong của được cử xướng chỉ mang một phong cách Duy Nhất; Ngữ Lục các Tổ Sư thường dẫn cứ Kinh Điển, nêu rõ thể cách Phật Pháp, không bị mắc kẹt vào những đối lập của Tông Phái; cho nên có thể nói rằng đây là thời kỳ thành lập Thiền Tông. Từ Nam Nhạc, Thanh Nguyên cho đến thời Ngũ Đại cuối nhà Đường, trong khoảng 250 năm, riêng một nhánh Nam Tông Thiền phát triển rực rỡ; nếu nói về mặt tư tưởng, họ đã kiến lập nên tinh thần gọi là “Tức Tâm Thị Phật (, ngay tâm này là Phật)”, “Bình Thường Tâm Thị Đạo (, tâm bình thường là đạo).” Còn về mặt sinh hoạt thực tế, thiết lập quy tắc Thiền Viện lấy Tăng Đường làm trung tâm; về phương diện hoằng truyền lưu bố Thiền pháp, họ lấy cách hoạt động linh hoạt để tiếp độ Học Đồ, lấy Cơ Dụng đánh hét để tuyên xướng Thiền Phong. Dần dà, Ngũ Gia () được thành lập. Thời kỳ này có thể nói là giai đoạn phát triển của Thiền Tông. Trong vòng 320 năm của hai triều đại nhà Tống, Lâm Tế Tông lại cho ra đời hai chi phái Hoàng Long và Dương Kì; hình thành nên hệ thống Ngũ Gia Thất Tông (). Trong đó, Phái Hoàng Long được Vinh Tây (西, Eisai) truyền vào Nhật Bản; còn về Phái Dương Kì, sau thời Dương Kì Phương HộiNgũ Tổ Pháp Diễn (), Viên Ngộ Khắc Cần (), Đại Huệ Tông Cảo (), v.v., tận lực xiển dương Thiền chỉ, tạo thành chủ lưu của Thiền. Trong khi đó, Hoằng Trí Chánh Giác () của hệ thống Tào Động Tông cùng với Đại Huệ Tông Cảo của Lâm Tế Tông mỗi bên đều cử xướng Mặc Chiếu Thiền () và Khán Thoại Thiền (). Chính trong thời kỳ này, các Đạo Giáo dung hợp, hình thành khuynh hướng Tam Giáo Nhất Trí (), Giáo Thiền Điều Hợp (調), Thiền Tịnh Song Tu (). Vì vậy, Thiền Tông dần dần mất đi tính cách độc lập, trở Thành Thời kỳ thủ vệ. Từ thời nhà Nguyên, Minh cho đến triều vua Càn Long (, tại vị 1735-1796) nhà Thanh, trong khoảng 450 năm, là thời kỳ suy yếu của Thiền Tông. Trong thời gian này tuy có Hải Vân Ấn Giản (), Vạn Tùng Hành Tú (), Pháp Am Tổ Tiên (), Vô Chuẩn Sư Phạm (), v.v., nhưng cũng chỉ thể hiện tư tưởng Nho Thích Điều Hợp, Giáo Thiền Nhất Trí mà thôi. Thiền Tông thời Cận Đại có Hòa Thượng Hư Vân (, 1839-1958), thọ đến 120 tuổi, một đời hoằng Pháp Không mệt mỏi, sáng lập Tùng Lâm rất nhiều, tận lực quảng bá Tông Phong, là Cao Tăng thuộc pháp phái của Lục Tổ Huệ Năng. Thiền Tông của Hàn Quốc thì có Cửu Sơn Thiền Môn (). Phần lớn chư vị khai tong lập phái đều sang nhà Đường cầu pháp, rồi trở về nước tuyên xướng Thiền Phong, tận lực giáo hóa, hình thành 9 Tông Phái chính. (1) Thời Thiện Đức Nữ Vương (, tại vị 632-647) của Tân La (), có Pháp Lãng () sang nhà Đường, theo hầu Tứ Tổ Đạo Tín, sau Truyền Pháp ở Hải Đông (). Dưới thời Huệ Cung Vương (, tại vị 765-780), có Thần Hành () sang nhà Đường cầu pháp, tham yết Chí Không (), Chứng Đắc Tâm Ấn, sau trở về nước hoằng truyền Bắc Tông Thiền ở Đoạn Tục Tự (), vùng Đơn Thành (). Môn hạ của Thần Hành, từ Tuân Phạm (), Huệ Ẩn () cho đến thời của Trí Tiển (), được Cảnh Văn Vương (, tại vị 861-875) quy y theo, khai sáng Hi Dương Sơn Phái (). (2) Vào năm thứ 5 (784) đời Tuyên Đức Vương (, tại vị 781-785), Kê Lâm Đạo Nghĩa () sang nhà Đường, thọ pháp với môn hạ của Mã Tổ là Tây Đường Trí Tàng và Bách Trượng Hoài Hải, thực hành yếu chỉ Nam Đốn, lưu lại bên đó 37 năm; sau đó trở về nước Truyền Pháp, hoằng hóa; môn hạ theo rất đông, lập ra Ca Trí Sơn Phái (). (3) Dưới thời của Hiến Đức Vương (, tại vị 810-826), có Hồng Trắc () sang nhà Đường Tham Học, nối tiếp dòng pháp của Tây Đường; sau khi về nước thì dừng chân trú tại Nam Nhạc (). Vào năm thứ 3 (828) đời Hưng Đức Vương (, tại vị 827-836), sư khai sáng Thật Tướng Tự (), cử xướng Thiền Phong; môn hạ theo Tham Học lên đến hơn ngàn người, và hình thành nên Thật Tướng Sơn Phái (). (4) Nhân vật đồng thời với Đạo Nghĩa sang nhà Đường cầu pháp, có Chơn Giám Huệ Chiểu (), sư được Ấn Khả của Thương Châu Thần Giám (), môn hạ của Mã Tổ; sau khi về nước thì sáng lập Song Khê Tự (). Vào năm thứ 6 (814) đời Hiến Đức Vương, Tịch Nhẫn Huệ Triết () cũng sang nhà Đường, thọ pháp của Tây Đường, rồi trở về nước và hoằng pháp, độ chúng ở Đại An Tự () thuộc Đồng Lí Sơn (), Võ Châu (). Pháp hệ do Huệ Chiểu và Huệ Triết truyền thừa được gọi là Đồng Lí Sơn Phái (). (5) Vô Nhiễm () sang nhà Đường cầu pháp, được Tâm Ấn của Bảo Triệt (), rồi về nước vào năm thứ 7 (846) đời Văn Thánh Vương (, tại vị 840-858) và tận lực cổ xúy Thiền pháp. Nhờ đức độ của sư, Hiến An Vương (, tại vị 858-861), Cảnh Văn Vương đều quy y theo, nên sư sáng lập Thánh Trú Sơn Phái (). (6) Vào năm thứ 6 (831) đời Hưng Đức Vương, có Thông Hiểu Phạn Nhật () sang nhà Đường, theo học Thiền với Diêm Quan Tề An (), pháp từ của Mã Tổ, được Ấn Khả của vị này; sau đó trở về nước và khai sáng Xà Quật Sơn Phái () trên Thiên Thai Sơn (). Về sau, môn nhân của Phạn Nhật là Lãng Không () cũng theo bước chân thầy sang nhà Đường, Tham Học với Thạch Sương Khánh Chư (), pháp hệ của Thanh Nguyên Hành Tư; vị này trở về nước, trú tại Thật Tế Tự ()Nam Sơn () và xiển dương Thiền chỉ. Đây được xem như là truyền thừa sớm nhất của hệ thống pháp phái Thanh Nguyên sang Hàn Quốc. (7) Song Phong Đạo Duẫn () sang nhà Đường, thọ pháp với Nam Tuyền Phổ Nguyện (), môn nhân của Mã Tổ, được vị này ấn chứng cho, và trở về nước cùng năm với Phạn Nhật. Sau này, môn nhân của Đạo Duẫn là Trừng Quán Chiết Trung () cũng có dịp sang nhà Đường, tham vấn Phổ Nguyện, rồi trở về nước và trú tại Hưng Ninh Thiền Viện () thuộc Sư Tử Sơn (). Pháp hệ của Đạo Duẫn và Chiết Trung được gọi là Sư Tử Sơn Phái (). (8) Dưới thời Cảnh Văn Vương, có Liễu Ngộ Thuận Chi () sang nhà Đường, Tham Học với Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, sau trở về nước, trú tại Thụy Vân Tự () hoằng bố Thiền pháp. Đến năm thứ 16 (824) đời Hiến Đức Vương, Viên Giám Huyền Dục () sang nhà Đường, học Thiền của Mã Tổ với Chương Kính Hoài Huy (); sau khi trở về nước thì được 4 đời vua Mẫn Ai (, ?-839), Thần Võ (, ?-839), Văn Thánh (, tại vị 840-858) và Hiến An () đãi ngộ. pháp từ của sư sáng lập ra Phụng Lâm Tự () và hình thành Phụng Lâm Sơn Phái (). (9) Vào thời kỳ cuối của triều đình Tân La, có Khánh Du (), Quýnh Vi () liên tục sang nhà Đường cầu pháp, được yếu chỉ của Vân Cư Đạo Ưng; sau khi về nước thì tận lực Cổ Xướng Thiền Phong, và đây chính là sơ truyền của Tào Động Tông vào đất nước này. Đến triều đình Cao Lệ (), lại có các Cao Tăng như Lợi Nghiêm (), Lệ Nghiêm (), Khánh Phủ (), Căng Nhượng (), Xán U (), v.v., kế tục hoằng truyền Huyền Chỉ Tông Môn. Trong số đó, Lợi Nghiêm đã từng sang nhà Đường, theo làm môn hạ của Đạo Ưng, được Ấn Khả tâm truyền; sau khi trở về nước, sư được vua Thái Tổ (, tại vị 918-943) quy y theo, kiến lập Quảng Chiếu Tự ()Tu Di Sơn (), Hải Châu (). Đây chính là khai thỉ của Tu Di Sơn Phái (). Chín Thiền phái nêu trên được gọi chung là Tào Khê Tông (). Nhờ sự sùng kính Phật Pháp của Thái Tổ, sau này các đời vua khác như Định Tông (, tại vị 945-949), Quang Tông (, tại vị 949-975), Văn Tông (, tại vị 1046-1083), Tuyên Tông (, tại vị 1083-1094), Thần Tông (, tại vị 1197-1204), v.v., liên tiếp hộ trì; nên Thiền Tông Nhất Thời hưng thịnh cao độ. Tuy nhiên, đến thời Trung Liệt Vương (, tại vị 1274-1298, 1298-1308) trở về sau, quốc thế suy yếu, Thiền Tông cũng theo đó mà bị ảnh hưởng, dẫn đến trầm trệ. Về Thiền Tông của Nhật Bản, đầu tiên vào năm thứ 4 (653) niên hiệu Bạch Trĩ () đời Hiếu Đức Thiên Hoàng (, Kōtoku Tennō, tại vị 645-654), Đạo Chiêu (, Dōshō) sang nhà Đường cầu pháp. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (), Đạo Tuyền () của Trung Hoa sang Nhật, hoằng truyền Bắc Tông Thiền. Trong thời gian Tha Nga Thiên Hoàng (, Saga Tennō, tại vị 809-823) ở ngôi, có đặc phái cung thỉnh Nghĩa Không () sang Nhật TruyềnNam Tông Thiền, và bắt đầu mở ra phong thái Thiền Tông Nhật Bản. Đến năm thứ 3 (1187), niên hiệu Văn Trị (), Minh Am Vinh Tây (西, Myōan Eisai) sang nhà Tống cầu pháp, theo hầu Hư Am Hoài Sưởng (), lấy pháp của Phái Hoàng Long truyền vào và khai sáng Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào năm thứ 2 (1223) niên hiệu Trinh Ứng (), Vĩnh Bình Đạo Nguyên (, Eisai Dōgen) sang nhà Tống, được Ấn Khả của Thiên Đồng Như Tịnh (), rồi quay về nước và trở thành Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản. Môn hạ của Đạo NguyênTriệt Thông Nghĩa Giới (, Tettō Gikai), Hàn Nham Nghĩa Duẫn (, Kangan Giin); cả hai cũng đã từng sang nhà Tống, sau đó về nước, tận lực cử xướng Thiền Phong và lập ra Hàn Nham Phái (, còn gọi là Pháp Hoàng Phái []). Năm đầu (1235) niên hiệu Gia Trinh (), Viên Nhĩ Biện Viên (, Enni Benen) sang nhà Tống, đến Kính Sơn () tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (), được Tâm Ấn của vị này; sau khi trở về nước thì sáng lập Đông Phước Tự (, Tōfuku-ji) ở kinh đô Kyoto và hoằng pháp Bố Giáo. Đến năm tứ 4 (1246), niên hiệu Khoan Nguyên (), Lan Khê Đạo Long () của Trung Hoa sang Nhật, khai sáng Kiến Trường Tự (, Kenchō-ji); nhờ vậy Thiền Phong ở địa phương Quan Đông (, Kantō) Nhất Thời cực thịnh. Vào năm thứ 4 (1267) niên hiệu Văn Vĩnh (), Nam Phố Thiệu Minh (, Nampo Shōmyō) sang nhà Tống, được Hư Đường Trí Ngu () ấn chứng cho và trở về bổn quốc. Hai năm sau (1269), Cao Tăng Đại Hưu Chánh Niệm () của Trung Hoa sang Nhật, trú ở hai chùa Kiến Trường (, Enchō)Viên Giác (, Enkaku), được triều đình cũng như dân chúng kính ngưỡng. Sau đó, một số Cao Tăng khác sang Nhật Truyền đạo như Nhất Sơn Nhất Ninh (), Tây Giản Tử Đàm (西), Đông Lí Hoằng Hội (), Viễn Khê Tổ Hùng (谿), Linh Sơn Đạo Ẩn (), v.v. Cuối cùng 24 dòng phái của Thiền Tông Nhật Bản được hình thành; gồm (1) Phái Thiên Quang (, Vinh Tây), (2) Phái Đạo Nguyên (, Đạo Nguyên), (3) Phái Thánh Nhất (, Viên Nhĩ), (4) Phái Pháp Đăng (, Giác Tâm []), (5) Phái Đại Giác (, Đạo Long), (6) Phái Ngột Am (, Phổ Ninh []), (7) Phái Đại Hưu (, Chánh Niệm), (8) Phái Pháp Hải (, Tĩnh Chiếu []), (9) Phái Vô Học (, Tổ Nguyên []), (10) Phái Nhất Sơn (, Nhất Sơn Nhất Ninh), (11) Phái Đại Ứng (, Nam Phố Thiệu Minh), (12) Phái Tây Giản (西, Tây Giản Tử Đàm), (13) Phái Kính Đường (, Kính Đường Giác Viên []), (14) Phái Phật Huệ (, Linh Sơn Đạo Ẩn), (15) Phái Đông Minh (, Đông Minh Huệ Nhật []), (16) Phái Thanh Chuyết (, Thanh Chuyết Chánh Trừng []), (17) Phái Minh Cực (, Minh Cực Sở Tuấn []), (18) Phái Ngu Trung (, Ngu Trung Châu Cập []), (19) Phái Trúc Tiên (, Trúc Tiên Phạn Tiên []), (20) Phái Biệt Truyền (, Biệt Truyền Minh Dận []), (21) Phái Cổ Tiên (, Cổ Tiên Ấn Nguyên []), (22) Phái Đại Chuyết (, Đại Chuyết Tổ Năng []), (23) Phái Trung Nham (, Trung Nham Viên Nguyệt []), (24) Phái Đông Lăng (, Đông Lăng Vĩnh Dư []). Trong số đó, trừ 3 phái Đạo Nguyên, Đông Minh, Đông Lăng thuộc về Tào Động Tông, 21 phái khác thuộc Lâm Tế Tông. Ngoài ra, vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (), Ẩn Nguyên Long Kỷ () của Trung Hoa sang Nhật, khai sáng Hoàng Bá Tông (), cùng với Tào Động, Lâm Tế hình thành thế chân vạc của Thiền Nhật Bản. Trong bài tựa của Thiền Tông Chánh Mạch (, Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1593) quyển 1 có đoạn rằng: “Thiền Tông Nhất Tông, biến mãn hoàn vũ, Phật Tổ dĩ hạ, đắc kỳ truyền giả, tự nhất đăng dĩ chí vô tận đăng yên, ngật kim đãi nhị thiên tự (滿, một Tông Phái Thiền Tông, đầy khắp hoàn vũ, từ Phật Tổ trở xuống, có người truyền thừa, từ một ngọn đèn đến vô tận ngọn đèn vậy, đến nay đã hai ngàn năm).”