Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Samantamukhaparivarto nàmàvalokitezvara-vikurvaịa-nirdeza Cũng gọi Quán âm kinh Phổ Môn phẩm, Quán Thế Âm kinh, Quán âm kinh, Phổ Môn phẩm kinh, Phổ Môn phẩm. Kinh, 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 9, là bản lưu hành riêng của phẩm Quán thế âmbồ tát Phổ Môn trong kinh Pháp hoa quyển 7. Nội dung phẩm này nói về sự Diệu Dụng Thị Hiện rộng khắp của Bồ Tát Quán Thế Âm, được trình bày bằng thể văn trường hàng (văn xuôi)và kệ tụng (văn vần), nhưng phần kệ tụng trong các bản Hán dịch thì bản có Bản Không rất khác nhau. Phẩm kinh này có 3 loại bản Hán dịch:
1. Quang thế âm Bồ Tát phẩm thứ 23 kinh Chính Pháp hoa, do Ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
2. Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm thứ 25 kinh Diệu Pháp Liên Hoa, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần.
3. Quán thế âmbồ tát Phổ Môn phẩm thứ 24 kinh Thiêm phẩm pháp hoa, do ngài Xà na quật đa và Đạt Ma Cấp Đa cùng dịch vào đời Tùy. Trong 3 loại bản dịch trên, kinh Chính Pháp hoa hoàn toàn thiếu phần kệ tụng, kinh Diệu Pháp Liên Hoa do ngài Cưu Ma La Thập dịch lúc đầu cũng không có kệ tụng, đến đời Tùy, ngài Xà na quật đa mới thêm vào, cho nên hoàn toàn giống với phần kệ tụng của kinh Thiêm phẩm pháp hoa. Phẩm Phổ Môn đã được rút ra làm Bản Kinh lưu hành riêng rất sớm, như kinh Quang thế âm 1 quyển (rút ra từ kinh Chính Pháp hoa, hoặc gọi là Quang thế âm Phổ Môn phẩm), kinh Quán Thế Âm 1 quyển (rút ra từ kinh Thiêm phẩm pháp hoa). Hai kinh này được nêu trong Xuất Tam Tạng kí tập quyển 4, nhờ đó ta mới biết được. Xưa nay ở Ấn Độ, Trung Á, Trung Quốc, Tây Tạng, Mông Cổ, Nhật Bản... Tín Ngưỡng Quán âm được lưu truyền rất rộng. Thời gần đây người ta còn phát hiện những mẩu vụn của phẩm Phổ Môn viết bằng các thứ tiếng Hồi Hột, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ... Theo sự nghiên cứu của các học giả cận đại, trong bản văn củaphẩm kinh này có vài ba chỗ dẫn dụng thuyết của kinh Phệ Đà, cho nên giữa kinh này và Tín Ngưỡng Bà La Môn có sự quan hệ rất sâu đậm, bởi thế, đa số học giả khi bàn về nguồn gốc của Bồ Tát Quán Thế Âm thường nói đến Thần Thấp bà của Bà La Môn Giáo. Ngoài ra, về các sách chú thích của phẩm kinh này thì có: Quán âm Huyền Nghĩa 2 quyển của ngài Trí Khải đời Tùy, Quán Âm Nghĩa sớ 2 quyển cũng của ngài Trí Khải. Quán âm Huyền Nghĩa kí 4 quyển, Quán Âm Nghĩa sớ kí 4 quyển của ngài Trí Lễ đời Tống. [X. Pháp Kinh lục Q. 2.; Đại Đường Nội Điển Lục Q. 2.; Hồi hột văn Pháp hoa kinh Phổ Môn phẩm chi đoạn phiến (Vũ điền hanh, Đông dương học báo)].
1. Quang thế âm Bồ Tát phẩm thứ 23 kinh Chính Pháp hoa, do Ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
2. Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm thứ 25 kinh Diệu Pháp Liên Hoa, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần.
3. Quán thế âmbồ tát Phổ Môn phẩm thứ 24 kinh Thiêm phẩm pháp hoa, do ngài Xà na quật đa và Đạt Ma Cấp Đa cùng dịch vào đời Tùy. Trong 3 loại bản dịch trên, kinh Chính Pháp hoa hoàn toàn thiếu phần kệ tụng, kinh Diệu Pháp Liên Hoa do ngài Cưu Ma La Thập dịch lúc đầu cũng không có kệ tụng, đến đời Tùy, ngài Xà na quật đa mới thêm vào, cho nên hoàn toàn giống với phần kệ tụng của kinh Thiêm phẩm pháp hoa. Phẩm Phổ Môn đã được rút ra làm Bản Kinh lưu hành riêng rất sớm, như kinh Quang thế âm 1 quyển (rút ra từ kinh Chính Pháp hoa, hoặc gọi là Quang thế âm Phổ Môn phẩm), kinh Quán Thế Âm 1 quyển (rút ra từ kinh Thiêm phẩm pháp hoa). Hai kinh này được nêu trong Xuất Tam Tạng kí tập quyển 4, nhờ đó ta mới biết được. Xưa nay ở Ấn Độ, Trung Á, Trung Quốc, Tây Tạng, Mông Cổ, Nhật Bản... Tín Ngưỡng Quán âm được lưu truyền rất rộng. Thời gần đây người ta còn phát hiện những mẩu vụn của phẩm Phổ Môn viết bằng các thứ tiếng Hồi Hột, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ... Theo sự nghiên cứu của các học giả cận đại, trong bản văn củaphẩm kinh này có vài ba chỗ dẫn dụng thuyết của kinh Phệ Đà, cho nên giữa kinh này và Tín Ngưỡng Bà La Môn có sự quan hệ rất sâu đậm, bởi thế, đa số học giả khi bàn về nguồn gốc của Bồ Tát Quán Thế Âm thường nói đến Thần Thấp bà của Bà La Môn Giáo. Ngoài ra, về các sách chú thích của phẩm kinh này thì có: Quán âm Huyền Nghĩa 2 quyển của ngài Trí Khải đời Tùy, Quán Âm Nghĩa sớ 2 quyển cũng của ngài Trí Khải. Quán âm Huyền Nghĩa kí 4 quyển, Quán Âm Nghĩa sớ kí 4 quyển của ngài Trí Lễ đời Tống. [X. Pháp Kinh lục Q. 2.; Đại Đường Nội Điển Lục Q. 2.; Hồi hột văn Pháp hoa kinh Phổ Môn phẩm chi đoạn phiến (Vũ điền hanh, Đông dương học báo)].