Khai Quang

《開光》 kāi guāng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có nhiều loại Khai Quang khác nhau. Căn cứ vào tôn giáo mà có Khai Quang của Phật Giáo, Khai Quang của Đạo Giáo, Khai Quang của Âm Dương Sư (), v.v.; như ở các đền thờ Quan Thánh Đế Quân () thường tiến Hành Nghi thức Quan Công Khai Quang (). Khai Quang của Phật Giáo lại chia thành Quần Khai Quang (, Khai Quang cho nhiều Hình Tượng) và Đơn Độc Khai Quang (, Khai Quang chỉ cho một tượng). Mỗi khi có tự viện nào lạc thành hay trùng tu, sau khi điêu khắc tượng Phật Bồ Tát xong, thường cung thỉnh chư tôn Thiền đức đến để tiến hành lễ Khai Quang Điểm Nhãn () cho các pho tượng đó. Đối với các tôn giáo, Khai Quang được xem như là một loại nghi thức vô cùng linh thiêng, quan trọng, Tiếp Dẫn linh tánh cũng như tiên khí vào trong tôn tượng. Nguồn gốc của nghi thức này phát xuất từ Đạo Giáo; lấy cái vô hình trong vũ trụ, có đủ linh tánh với Pháp Lực vô biên đem nhập vào trong thần tượng; cho nên sau khi đem thờ phụng thì tôn tượng ấy trở thành linh hiển. Nguyên Lai, Phật Giáo không có nghi thức này, mà chỉ có nghi thức gia trì tượng Phật, so với nghi Khai Quang có khác nhiều. Nếu xét về phương pháp Khai Quang thần tượng theo Đạo Giáo, mọi việc đều thông qua vị Cao Công Pháp Sư (), chọn ngày giờ tốt để tiến Hành Nghi Khai Quang Điểm Nhãn. Nghi thức ấy gồm 12 loại khoa nghi: Thanh Tịnh (), Thỉnh Thần (), Phát Chỉ (), Phát Lịnh (), Thất Tinh (), Bát Quái (), Nhập Thần (), Sắc Bút (), Sắc Kính (), Sắc Kê (), Khai Quang (), Phát Hào (). Khai Quang còn gọi là Khai Nhãn (), Khai Minh (), Khai Quang Minh (), Khai Nhãn Cúng Dường (), Khai Nhãn Giới (), Khai Nhãn Căn (). Thiền Lâm Tượng Khí () quyển Thượng có ghi rằng: “Phàm tân tạo Phật Tổ Thần Thiên tượng giả, Chư Tông sư gia, Lập Địa sổ ngữ, tác bút điểm thế, trực điểm khai tha Kim Cang chánh nhãn, thử vi Khai Nhãn Phật Sự, hựu danh Khai Thủy Minh (, phàm các tượng Phật, Tổ, Thần, Chư Thiên mới tạo nên, các nhà Tông Sư, đứng trên mặt đất nói vài lời, cầm cây bút theo tư thế điểm, điểm thẳng khai mở chánh nhãn Kim Cang của tượng; đây là Phật Sự Khai Nhãn, còn gọi là Khai Thủy Minh).” Phật Giáo cho rằng Chúng Sanh từ vô thỉ kiếp cho đến nay, đã chịu biết bao nhiêu ô nhiễm của trần cấu, Vô Minh, nên không thể nào thấy rõ chân lý của các pháp, vì vậy cần phải khai mở trí tuệ bên trong mỗi chúng ta. Khai Quang cũng là một hình thức để tu chứng đạt đến tương ứng với Phật Tâm, cầu thỉnh chư Phật Bồ Tát giáng lâm, ấn chứng cho Ứng Thân của tôn tượng, rót vào đó năng lượng Đại Từ Đại Bi, đại trí đại tuệ, Ngũ Nhãn Lục Thông, thông qua người tiến hành lễ Khai Quang. Do đó, hiệu quả của việc Khai Quang hoàn toàn liên quan đến vị Đạo Sư hành lễ, chứ không phải do nghi thức hay hình thức gì cả. Về tiến trình lễ Khai Quang, trước khi hành lễ, phải an trí tôn tượng một nơi cố định, trước tụng kinh và thần chú để cung thỉnh chư Phật, Bồ Tát an tọa; sau đó mới thỉnh chư vị Cao Tăng vì tôn tượng mà tiến hành Khai Quang, Thuyết Pháp. Hắc Cốc Đăng Ngữ Lục () quyển Trung có giải thích rằng: “Khai Nhãn giả, bổn thị Phật Tượng điêu khai nhãn, thị sự Khai Nhãn, thứ tăng gia tụng Phật Nhãn Chơn Ngôn, tụng Đại Nhật Chơn Ngôn, nhi Thành Tựu Phật Nhất Thiết Công Đức, thử vị Khai Nhãn dã (, Khai Nhãn vốn là khai mở con mắt của tượng điêu khắc, việc đó là Khai Nhãn; kế đến chư tăng tụng Phật Nhãn Chơn Ngôn, tụng Đại Nhật Chơn Ngôn, để Thành Tựu hết thảy Công Đức, đây được gọi là Khai Nhãn vậy).” Thật ra, Khai Quang là một loại nghi thức Thuyết Pháp cử hành cho tượng Phật. Nghi thức cụ thể như sau: Trước hết vị chủ lễ cầm một cái khăn lông hướng về tượng Phật làm động tác lau chùi tôn tượng, rồi nói một câu kệ, tán tụng Công Đức của chư Phật Bồ Tát, như vậy được gọi là Khai Nhãn. Tiếp theo, vị ấy dùng cái kính hướng đối chiếu ngay chánh diện của tượng Phật, nói vài lời về ngôi tự viện hiện tại, Nhân Duyên hoàn Thành Tôn tượng. Sau đó, vị chủ lễ cầm cây bút Chu Sa (), lại nói một câu kệ ngữ khác, rồi cầm cây bút hướng về tôn tượng làm động tác “điểm”, hô vang một tiếng “khai (, mở ra)”; khi nghi thức ấy đã xong, như vậy việc Khai Quang được xem như là hoàn tất. Khi Khai Quang, do vì Công Đức của chư Phật Bồ Tát không giống nhau, nên vị chủ lễ nói Pháp Ngữ cũng không thống nhất. Tại Trung Quốc, Pháp Hội Khai Quang được tiến hành đầu tiên vào năm thứ 5 (980) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc () nhà Bắc Tống. Truyền Pháp Đại Sư Thí Hộ (), người nước Ô Điền Nẵng () ở Bắc Ấn Độ, đã dịch bản Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh (, Taishō Vol. 21, No. 1418) tại Dịch Kinh Viện () của Thái Bình Hưng Quốc Tự () thuộc Phủ Khai Phong. Dịch bản này ghi rõ toàn bộ quy trình tiến Hành Nghi thức Khai Quang Điểm Nhãn một cách chi tiết. Tại Nhật Bản, trong Điều Thiên Trí Thiên Hoàng Thập Niên Thập Nguyệt (, tháng 10 năm thứ 10 [671] đời Thiên Trí Thiên Hoàng [, Tenji Tennō, tại vị 661-671]) của bộ Nhật Bản Thư Kỷ (, Nihonshōki) có ghi lại Lễ Khai Nhãn cho trăm tượng Phật trong cung nội; rồi trong Điều Trì Thống Thiên Hoàng Thập Nhất Niên Thất Nguyệt (, tháng 7 năm thứ 11 [697] đời Trì Thống Thiên Hoàng [, Jitō Tennō, tại vị 690-697]) có ký lục cho biết rằng tại Dược Sư Tự (, Yakushi-ji) ở vùng Phi Điểu (, Asuka) có tiến hành Hội Khai Nhãn. Vào ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ 4 (752) niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo (), lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật () được diễn ra tại Đông Đại Tự (, Tōdai-ji), thành phố Nại Lương (, Nara). Hiếu Khiêm Thiên Hoàng (, Kōken Tennō, tại vị 749-758), Thánh Võ Thiên Hoàng (, Shōmu Tennō, tại vị 724-749), Hoàng Thái Hậu và phi tần Nội Cung, cùng toàn thể quần thần bá Quan Văn võ đồng đến tham dự với khoảng hơn 1 vạn tăng sĩ hành lễ. Đặc biệt, lễ hội này do Bồ Đề Tiên Na (Sanskrit: Bodhisena, ) chủ lễ, và điều khiển nhạc lễ thì do Phật Triết (, Buttetsu, ?-?, hay Phật Triệt []), vị tăng sang Nhật Bản dưới Thời Đại Nại Lương (, Nara), xuất thân vùng Lâm Ấp (, Nam bộ Việt Nam, Huế-Phan Rang). Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (, 713-741) nhà Đường, ông theo Bồ Đề Tiên Na sang Trung Quốc. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường là Lý Kính () và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng Thành (), ông cùng với thầy sang Nhật, đến trú tại Đại An Tự (, Daian-ji). Bồ Đề Tiên Na dạy Phật Pháp, còn Phật Triệt chuyên tâm truyền dạy Nhã Nhạc Lâm Ấp cho Nội Cung triều đình Nhật, cùng là dạy các điệu múa Bồ Tát, Bạt Đầu, v.v., để cúng dường trong các lễ hội Phật Giáo. Trong lễ Hội Khai Nhãn năm 752 này, Phật Triệt điều khiển dàn nhạc gồm hơn 400 nhạc công và vũ công của Nhã Nhạc Viện () trong Nội Cung, diễn tấu Nhạc Lâm Ấp để cúng dường Tượng Đại Phật Tỳ Lô Giá Na (Sanskrit: Vairocana, ); lễ Hội kéo dài trong 3 tháng. Trong Chuẩn Đề Phần Tu Tất Địa Sám Hối Huyền Văn (, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1482) có ghi lại sự huyền nhiệm của lễ Khai Nhãn như sau: “Hựu như Đinh Nguyên Công Tịnh Y Thiền Sư, vi Cư Sĩ thời, tằng vi dư y Bất Không dịch, tả Chuẩn Đề tượng ư Dược Sơn viên trung; Khai Quang chi nhật, hốt hữu cốt đổng gia, dĩ Chuẩn Đề Chơn Ngôn Phạn thư cựu hồng nha trục, Phạn thư cổ từ lư, đồng hương hạp, lai trợ trang diễn cúng dường giả, tinh cảm chiêu trung bất tư nghì sự (, lại như Đinh Nguyên Công Tịnh Y Thiền Sư, khi còn làm Cư Sĩ, từng theo bản dịch của Bất Không, vẽ tượng Chuẩn Đề trong vườn Dược Sơn; ngày lễ Khai Quang, chợt có một người chơi đồ cổ, lấy cuộn sách cũ kỹ ghi Chuẩn Đề Chơn Ngôn bằng tiếng Phạn, bình sứ có ghi tiếng Phạn, hộp đốt hương bằng đồng, đến giúp trang trí cúng dường, bèn cảm biết trong ấy việc không nghĩ bàn).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, có lòng văn Sớ về Tạo Tượng Khai Quang () như: “Tướng hảo Trang Nghiêm, dĩ tận quỳ khuynh chi khẩn; trai tu túc liệt, viên thân bộc hiến chi cung; ngung nhược hữu phu, nghiễm nhiên như tại. Thiết niệm: [Mỗ] thọ hạ liệt thân phạp đại Nhân Tướng, đổ Tử Ma chi sắc, hạt thắng kỳ thừa; vọng Bạch Hào chi quang, đồ thiết bi ngưỡng; thị dĩ kính vu [mỗ] tự thí tạo [mỗ] tượng nhất tôn, tạo công ký tất nhưng diên tăng kiến Khai Quang thực phước Đạo Tràng, [nhập Phật Sự] phủ tu vi thiện, ngưỡng đáp Hồng Hưu. Phục nguyện: Ngộ chơn Không Tướng, hoạch Pháp Tánh thân; bị Nhị Nghiêm chi tư, biến du giác uyển; tiêu Ngũ Trược chi uế, hằng xử Tịnh Bang ([][][][], tướng tốt Trang Nghiêm, bày tận tấc lòng khẩn thiết; cỗ chay thiết đủ, chí thành dâng hiến cúng dường; vĩ Đại Đức tin, nghiễm nhiên hiện hữu. Thiết nghĩ: [Con…] thọ thân hạ liệt thiếu tướng đại nhân [bậc giác ngộ], thấy vàng ròng Sắc Tướng, sao khỏi ước mong; ngắm mày trắng hào quang, không sao buồn tủi; do vậy kính ngưỡng chùa …, tạo dựng tượng một pho, công trình hoàn tất, lại thỉnh chư tăng lập Đạo Tràng Khai Nhãn gieo phước; [phần Phật Sự], cúi tu chút thiện, ngưỡng đáp hồng ân. Cúi mong: Ngộ chơn Không Tướng, đạt Pháp Tánh thân; đủ phước trí dáng hình, chơi khắp vườn giác; tiêu Năm Trược ô uế, thường trú Tịnh Bang).” Trong Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh có nêu một số câu Thần Chú dùng cho lễ Khai Quang như Chơn Ngôn Hiến Ứ Già Cúng Dường (, cúng dường nước) là “Án, tát rị phạ bá ba ta phổ tra na hạ nẵng phạ nhật ra dã tát phạ hạ ()”; Hương Du Chơn Ngôn (, Chơn Ngôn cúng dường hương dầu) là “Án, tát rị phạ đát tha nga đa ca dã vĩ thú đà nhĩ ta phạ hạ ()”; Phật Nhãn Bồ Tát Chơn Ngôn Năng Trừ Nhất Thiết Cấu (, Chơn Ngôn của Phật Nhãn Bồ Tát có thể trừ tất cả những dơ bẩn) là “Án, tát rị phạ ra tổ ba hạ ra noa ta phạ hạ ()”; Quán Đảnh Chơn Ngôn () là “Án, tát rị phạ đát tha nga đa tỷ sân ca tam ma dã thất rị duệ hồng ()”; Trước Y Chơn Ngôn (, Chơn Ngôn mặc áo) là “Án, phạ nhật ra phạ ta tế ta phạ hạ ()”; An Nhĩ Chơn Ngôn (, Chơn Ngôn An Vị lỗ tai) là “Án, ca ra noa ma lộ đà ra noa hồng ()”; An Phát Kế Chơn Ngôn (, Chơn Ngôn An Vị tóc và búi tóc) là “Án, tát rị phạ chỉ ta a phạ đa ra noa hồng ta phạ hạ ()”; An Chỉ Giáp Chơn Ngôn (, Chơn Ngôn An Vị ngón tay) là “Án, tát rị phạ thâu nẵng khư thế na nẵng ra nhã ta phạ hạ ()”; An Tì Tu Chơn Ngôn (, Chơn Ngôn An Vị râu ria) là “Án, tát rị phạ ta ma tô rô đà ra noa Hồng Hồng hứ lăng ()”; Hiến Đồ Hương Chơn Ngôn (, Chơn Ngôn dâng cúng dầu hương) là “Án, phạ nhật ra hiến đệ ta phạ hạ ()”; An Trang Nghiêm Chơn Ngôn () là “Án, phạ nhật ra bà ra noa vĩ bộ sắt ni ta phạ hạ ()”; Bổn Tôn Tam Muội Chơn Ngôn () là “Án, hồng đát lạc ngật rị ác ()”; Hiến Hoa Chơn Ngôn () là “Án, phạ nhật ra bổ sắt bế hồng ()”; Hiến Hương Chơn Ngôn () là “Án, phạ nhật ra độ bế ()”; Đăng Chơn Ngôn () là “Án, phạ nhật ra nễ bế ta phạ hạ ()”; Thực Chơn Ngôn () là “Án, tân nỗ ba đán bát ra để ngật rị hận nẵng ta phạ hạ ()”; Khai Nhãn Quang Chơn Ngôn () là “Án, tác sô tác sô tam mãn đa tác sô vĩ thú đà nễ ta phạ hạ (滿)” và “Án, nễ đát ra Ba Tra lộ ba hạ ra noa hứ lăng ()”; Hộ Ma Chơn Ngôn () là “Án, phạ nhật ra dụ thế ta phạ hạ ()”; Tức Tai Tăng Ích Chơn Ngôn () là “Án, phạ nhật ra bố sắt tra duệ ta phạ hạ ()”; Hộ Thế Chơn Ngôn () là “Ấn, nại ra dã ta phạ hạ ()”, v.v.