Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú

《徃生淨土神呪》 wǎng shēng jìng tǔ shén zhòu

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni (), Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn (). Câu thần chú này được tìm thấy trong Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú (, Taishō No. 368) do Lưu Tống Cầu Na Bạt Đà La (Sanskrit: Guṇabhadra, ) trùng dịch. Và một số bản có nội dung tương tự với thần chú này như Đà La Ni Tập Kinh (, Taishō No. 901) do Đường A Địa Cù Đa () dịch, Cam Lồ Đà La Ni Chú (, Taishō No. 901) do Đường Thật Xoa Nan Đà (Sanskrit: Śikṣānanda, ) dịch, A Di Đà Phật Thuyết Chú (, Taishō No. 369), thất dịch, Phật Thuyết Vô Lượng Công Đức Đà La Ni Kinh (, Taishō No. 1317) do Tống Pháp Hiền () dịch. Nguyên âm Hán ngữ của thần chú này là: “Nam Mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa địa dạ tha, a di lợi đô bà tỳ, a di lợi đa, tất đam bà tỳ, a di lợi đa tỳ ca lan đế, a di lợi đa, tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta Bà Ha ()”. Căn cứ vào bộ Trung Hoa Phật Giáo Bách Khoa Toàn Thư (, bản điện tử) cũng như Hán Phạn-Phạn Hán Đà La Ni Dụng Ngữ Dụng Cú Từ Điển (, Nhà Xuất Bản Hoa Vũ [], Đài Loan, 1985) của Tác Giả người Đức là Robert Heineman, Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú được chuyển sang tiếng Sanskrit như sau: “namo amitabhaya, tathagataya, tad yatha, amrtod bhave, amrta siddhambhave, amrta vikrmte, amrta vikrmta gamine, gagana kirti kare, svaha”; và được dịch là: “Con xin quy mạng đức Phật Vô Lượng Quang, đấng Như Lai, liền thuyết chú rằng đấng Chủ Tể Cam Lồ, người Thành Tựu Cam Lồ, người truyền rưới Cam Lồ, người rưới khắp Cam Lồ, người tuyên dương (Cam Lồ) khắp Hư Không, Thành Tựu viên mãn”. Như trong Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú, đức Phật dạy rằng nếu có người thiện nam và thiện nữ trì tụng thần chú này thì ngày đêm thường được đức Phật A Di Đà trú trên đỉnh đầu của vị ấy để ủng hộ, không khiến cho các điều Oan Gia xảy ra, đời hiện tại được sống An Ổn, và khi Lâm Chung theo đó mà được Vãng Sanh về Quốc Độ của Ngài. Vì vậy, câu thần chú này thường được tụng chung với Thập Chú trong thời Công Phu khuya của Thiền Môn và được dùng trong các buổi lễ cầu siêu.