Tháp

《塔》

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: stūpa, Pāli: thūpa: âm dịch là Tốt Đổ Bà () Tốt Đổ Ba (), Tốt Đô Bà (), Tẩu Đẩu Bà (), Tẩu Đẩu Ba (), Tô Thâu Bà (), Tố Đổ Ba (), Suất Đô Bà (), Tốt Đô Bà (); dịch tắt là Tháp Bà (), Thâu Bà (), Đâu Bà (), Phật Đồ (), Phù Đồ (), Phật Tháp (); ý dịch là cao hiển xứ (), Công Đức Tụ (), Phương Phần (), viên trũng (), đại trũng (), trũng (), phần lăng (), tháp miếu (), miếu (), quy tông (), đại tụ (), tụ tướng (), linh miếu (). Nguyên Lai chỉ cho nơi an trí vật Xá Lợi, v.v., của đức Phật, lấy gạch ngói, v.v., dựng thành vật kiến trúc; nhưng đời sau phần lớn hỗn đồng với nghĩa Chi Đề (Sanskrit: caitya, ), mà chỉ chung cho nơi đức Phật Đản Sanh, Thành Đạo, Chuyển Pháp Luân, Nhập Niết Bàn, nơi các đức Phật Quá Khứ Kinh Hành, thánh địa liên quan đến tiền sanh của đức Phật, hang Bích Chi Phật (Sanskrit: pratyeka-buddha, ), cho đến những nơi an trí tượng chư Phật, Bồ Tát, hay di cốt của chư vị Cao Tăng, Tổ Sư, v.v. người ta thường lấy đất, đá, gạch ngói, gỗ, v.v., xây dựng nên vật kiến trúc để Lễ Bái cúng dường. Tuy nhiên, Ma Ha Tăng Kỳ Luật (, Taishō Vol. 22, No. 1425) quyển 33, Pháp Hoa Nghĩa Sớ (, Taishō Vol. 34, No. 1721) quyển 11, v.v., Phân Biệt rõ rằng nơi nào có Xá Lợi đức Phật thì gọi là Tháp, nơi nào không có là Chi Đề. Căn cứ vào đó, 8 ngôi tháp có an trí Xá Lợi đức Phật ở Câu Thi Na (Sanskrit: Kuśinagara, Pāli: Kusinagara ), Ma Kiệt Đà (s, Pāli: Magadha ), v.v., là Tốt Đổ Ba; còn các ngôi tháp nơi đức Phật đản sanh ở Ca Tỳ La Vệ (Sanskrit: Kapilavastu, Pāli: Kapilavatthu ), nơi Thành Đạo dưới cây Bồ Đề ở Phật Dà Già Da (Sanskrit: Buddha-gayā, ), nơi Chuyển Pháp Luân ở Vườn Lộc Uyển (Sanskrit: Mṛgadāva, Pāli: Migadāya 鹿), nơi đại Thần Thông của Tinh Xá Kỳ Viên (Pāli: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, ), nơi có ba đường bậc cấp báu (khi đức Phật từ trên cung trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, Pāli: Tāvatiṃsa ] xuống) ở gần khúc Nữ Thành (), nơi tuyên Thuyết Kinh điển Đại Thừa ở núi Kỳ Xà Quật (Sanskrit: Gṛdhrakūṭa, Pāli: Gijjhakūṭa ), nơi Cư Sĩ Duy Ma Cật (Sanskrit: Vimalakīrti, ) Thị Hiện tướng bệnh ở Am La Vệ Lâm (), nơi đức Phật nhập Niết Bàn ở rừng Sa La (), v.v., được gọi là Bát Đại Linh Tháp (, tám ngôi tháp lớn linh thiêng), đều thuộc về Chi Đề. Về nguồn gốc tạo dựng tháp, có thể suy tận thời Đại Đức Phật, như Thập Tụng Luật (, Taishō Vol. 23, No. 1435) quyển 56 cho biết rằng trưởng giả Tu Đạt (Pāli: Sudatta, ) đã từng cầu xin lấy tóc và móng tay của đức Phật, dựng tháp thờ cúng dường. Hay Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 33 có ghi rằng vua Ba Tư Nặc (Sanskrit: Prasenajit, Pāli: Pasenadi ) cũng từng bắt chước đức Phật, kiến lập tháp Phật Ca Diếp (Sanskrit: Kāśyapa Buddha, ) để Lễ Bái cúng dường. Sau khi đức Phật Nhập Diệt, có 8 quốc gia như Ba Bà (), Nhân Già La (), La Ma Già (), v.v., nhờ Bà La Môn Hương Tánh () phân chia Xá Lợi cho, các nước ấy đều tự đem trở về dựng tháp cúng dường; và đây được xem như là khởi điểm của việc kiến tạo Tốt Đổ Ba. Ngoài ra, theo A Dục Vương Truyện (, Taishō Vol. 50, No. 2042) quyển 1, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 1, v.v., cũng cho biết thêm rằng sau khi đức Phật Diệt độ khoảng 200 năm, nhân dịp quân lâm đến vương quốc Ma Kiệt Đà, vua A Dục (Sanskrit: Aśoka, Pāli: Asoka ) đã cho kiến lập 84.000 Bảo Tháp ở khắp các địa phương của lãnh thổ này. Theo khảo chứng của học giả Nhật Bản là Dật Kiến Mai Vinh (, Henmi Baiei, 1891-1977), cổ tháp trong di tích Sanchi, ngói tạo tháp ở vị trí trung tâm được vua A Dục làm từ thời xưa. Nếu nói chung về nghĩa của Tháp (gồm Tháp Bà lẫn Chi Đề), có rất nhiều kiến trúc nổi tiếng trên khắp Thế Giới, tỷ dụ như: (1) Tháp của di tích Bharhut (, Ba Hách Đặc) ở miền Trung Ấn, thân tháp đã bị đỗ nát hoàn toàn, chỉ còn lại lan can bằng đá, cổng đá; suy định thuộc loại cổ tháp, được dựng vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước CN, dưới thời vua Huân Ca (). (2) Lan can đá cổ ở vùng phụ cận Đại Tháp Phật Đà Già Da, được dựng vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước CN. (3) Các Chi Đề ở những di Tích Phật Giáo trứ danh như hang động thứ 10 của Ajanta (, A Chiên Đa), hang động thứ 17 của Nāsik (西, Na Tây Khắc), ở Kārlī (, Ca Lợi), Bedsā (, Bối Đức Sa), v.v., đều được tạo dựng vào khoảng từ thế kỷ thứ 2 đến thứ 1 trước CN; là các di sản tiểu biểu quan trọng của tháp Phật thời cổ đại. (4) Ca Nị Sắc Ca (Sanskrit: Kaniṣka, Pāli: Kanisika ) của nước Kiền Đà La (s, Pāli: Gandhāra ) thuộc Bắc Ấn, vị vua thống trị vào khoảng thế kỷ thứ 1 sau CN, đã từng kiến lập một ngôi tháp cao đến 32 thước dưới Tuyết Sơn thuộc nước Ca Tất Thí (Sanskrit: Kapiśa, ). Rồi nhà vua lại cho dựng ngôi Tước Ly Phù Đồ () ở nước Kiền Đà La, cao hơn 220 thước, gồm 13 cấp; cho nên Lạc Dương Già Lam(, Taishō Vol. 51, No. 2092) quyển 5 gọi đó là “Tây Vức Phù Đồ tối vi đệ nhất (西, ngôi tháp số một trong những ngôi tháp ở Tây Vức [Ấn Độ]).” (5) Tại địa phương Kiền Đà La còn có một số di tích tháp cổ, đều được kiến tạo vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước sau CN cho đến thế kỷ thứ 2, 3 sau CN; như tháp Đạt Nhĩ Mã Lạp Tư Sá (, Darmarajka), Mã Ni Kháp Lạp (, Manikyala), Tháp Khố Đặc Y Ba Hy (, Takt-i-Bahi), Á Lực Mã Tư Cát Đức (, Ali Masjid), v.v. (6) Tại địa phương A Nậu La Đà Bổ La (, Anuradhapura) của Tích Lan (, Sri Lanka), vẫn còn mấy tòa cổ tháp, trong đó có Tháp Viên (Pāli: Thūpārāma, ) do vua Thiên Ái Đế Tu (Pāli: Devānampiya-tissa, ) kiến lập, được xem như là ngôi tháp xưa nhất của đất nước này. Lại có Vô Úy Sơn Phật Tháp (Pāli: Abhayagiri, ) được vua Bà Tha Già Mã Ni (Pāli: Vaṭṭagāmaṇi, ) kiến lập vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước CN, cao hơn 120 thước, đường kính đáy tháp khoảng 115 thước. Ngoài ra, ngôi Lỗ Uyển Duy Lợi Tháp (, Ruwanveli) vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước CN, được xem như tháp cổ nổi tiếng nhất. (7) Ngôi Thụy Đức Cung Phật Tháp (, Shwedagon) ở thủ đô Rangoon (, Lan Cống), Miến Điện (, Myanmar), thân tháp cao đến 118 thước. Ngôi Tu Mã Đỗ Tháp (, Shwemaudau) ở cố đô Pegu (, Tí Cổ), cao 102 thước; tầng bên ngoài tháp đều được trang sắc bằng vàng ròng, chung quanh có mấy mươi tòa tháp nhỏ. Bên cạnh đó, còn có Tô Lôi Tháp (, Soolay) ở Rangoon; vùng phụ cận của Mandalay cũng có khoảng 450 ngôi tháp nổi tiếng khác. Tại Pagan có một số như Đạt Tân Vưu Tháp (, Tapinyu), Cáo Đạt Ba Lâm Tháp (, Gauda-palin), A Nan Đà Tháp (, Ānanda), v.v. (8) Tại Thái Lan, có rất nhiều tháp Phật vẫn còn tại cố đô Ayuthia (, Do Địa Á). Ngoài ra, ngôi Phỉ Lạp Thác Mỗ Ma Yết Đề Tháp (, Phra-Thomma chedi) tại thủ đô Bangkok (, Mạn Cốc), thân tháp cao đến 125 thước; ngôi Thanh Tự Tháp (, Wat Ching), đều là những kiến trúc Phật Giáo trứ danh. (9) Các ngôi Duy Ân Thường Tháp (, Vienchang), Khoa Ma Nghênh Tháp (, Chom-yong) của Lào, đều là những ngôi tháp cổ quan trọng. (10) Ngôi Bà La Phù Đồ (, Buro-Budur) ở xứ Java (, Trảo Oa) là ngôi tháp có quy mô rộng lớn, hình tứ giác, trên đỉnh có một tòa tháp lớn, chung quanh bao bọc bởi 72 tháp nhỏ với hình dáng tương đồng với tháp lớn kia; trong mỗi tháp có an trí tượng Phật, toàn bộ thể hiện hình dáng Kim Tự Tháp của Ai Cập; mỗi tháp dài rộng 123 thước, cao 42 thước, được xem như là Thánh địa vĩ đại nhất, hùng tráng nhất hiện tồn của Phật Giáo Đại Thừa trên toàn cầu. (11) Tại Nepal (, Ni Bạc Nhĩ), có ngôi Tư ổ Nhã Mỗ Bố Na Đức Tháp (, Swuyambhūnāth) ở Katmandu (滿, Gia Đức Mãn Đô) cũng rất to lớn, hình trạng giống như bình bát úp xuống; trên có mấy mươi tầng vòng tròn, trên đỉnh tháp có Bảo Cái. (12) Tháp tại Tây Tạng được gọi là Lạt Ma Tháp (), nhưng trong nước này có khá nhiều tháp nhỏ. (13) Tại Trung Quốc, ở phương Bắc, Đông Bắc cũng như Mông Cổ, vẫn còn rất nhiều tháp lớn; như Lợi Tự (, Leh) ở Ladakh (, Lạp Đạt Khắc); ngôi Bố Đạt Lạp Miếu () ở Nhiệt Hà (). Những ngôi tháp có quy mô hoành tráng tại 4 ngôi chùa ở Đông Tây Nam Bắc của Thẩm Dương (), Liêu Ninh (); tại Đại Tháp Viện Tự () trên Ngũ Đài Sơn () vùng Sơn Tây (西); Tịnh Minh Tự () ở Thái Nguyên (), Sơn Tây; Vĩnh An Tự (), Diệu Ứng Tự () ở Bắc Bình (), v.v. Trong số đó, ngôi tháp ở Đại Tháp Viện Tự cao 86 thước, thuộc loại lớn nhất. Việc kiến tạo tháp Phật tại Trung Quốc khởi đầu từ thời Tam Quốc (, nghĩa hẹp là 220-280), tức nhân sự kiện Ngô chúa Tôn Quyền (, tại vị 229-252) cảm đắc Xá Lợi nơi Cao Tăng Khương Tăng Hội (, ?-280), vô cùng thán phục, bèn xây tháp cúng dường, lấy hiệu là Kiến Sơ Tự (). Lúc bấy giờ là năm thứ 3 (240) niên hiệu Xích Ô (). Tuy nhiên, nếu theo Phật Tổ Thống Kỷ (, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 54 ghi chép, ngôi tháp tại Bạch Mã Tự () được kiến lập vào năm thứ 10 (67) niên hiệu Vĩnh Bình () đời vua Minh Đế (, tại vị 57-75) nhà Đông Hán, là tháp xưa nhất của Trung Quốc. Sau đó, sự tích kiến lập tháp trãi qua các triều đại rất nổi tiếng. Như vào năm thứ 2 (281) niên hiệu Thái Khang () đời vua Võ Đế Tư Mã Viêm (, tại vị 266-290) nhà Tây Tấn, tăng sĩ Huệ Đạt () cảm đắc một tòa Bảo Tháp cao khoảng 45 thước, rộng 22 thước ở Huyện Mậu (), Triết Giang (), bèn dựng tháp để an trí tháp ấy. Đến năm đầu (516) niên hiệu Hy Bình () đời vua Hiếu Minh Đế Nguyên Hủ (, tại vị 515-528) nhà Bắc Ngụy, Linh Thái Hậu họ Hồ sai thợ kiến lập một tòa tháp bằng gỗ cao 9 tầng tại Vĩnh Ninh Tự (), Lạc Dương (); tháp này cao đến 320 thước, cả ngoài trăm dặm đều có thể nhìn thấy được; nơi mái tháp có treo phong linh, thường phát ra âm thanh du dương, thanh thoát khi gió thoảng qua; tiếc thay tháp này hiện không còn nữa. Trong khoảng niên hiệu Chánh Quang (, 520-524) đời vua Hiếu Minh Đế Nguyên Hủ, tại Tung Nhạc Tự () ở Tung Sơn (), Hà Nam (), có tạo dựng một ngôi tháp bằng gạch nung, cao khoảng 64 thước, có 12 góc, 15 tầng, được xem như là ngôi tháp tối cổ của Trung Quốc. dưới thời vua Dương Đế (, tại vị 604-618) nhà Tùy, nhà vua đã từng vì Đại Sư Trí Khải (, 538-397), kiến lập một ngôi tháp cũng bằng gạch tại Quốc Thanh Tự () trên Thiên Thai Sơn (), cao khoảng 74 thước. Chính vua Thái Tông (, tại vị 626-649) nhà Đường cũng từng đáp ứng lời thỉnh cầu của Đại Sư Huyền Trang (, 602-664) cho dựng một tòa tháp bằng gạch nung cao 58 thước tại Đại Từ Ân Tự (), Tây An (西). Ngoài ra, số lượng tháp được tạo dựng ở các tự viện Trung Quốc qua các triều đại, nhiều không thể kể xiết; nhưng nếu nói về loại bằng gỗ hiện tồn thì rất ít. Sau thời nhà Nguyên (, 1206-1368) trở đi, vì chịu ảnh hưởng của văn hóa Lạt Ma Giáo, dạng thức của tháp cũng biến thành gọi là “hình thức bạch tháp ().” Dạng thức này vốn xuất phát từ Bắc Ấn và Đại Nguyệt Thị (), như Bạch Tháp ở Bắc Hải (), Bắc Bình (); Xá Lợi Tháp ()Pháp Hải Tự () thuộc Giang Đô (), Giang Tô (); Bách Linh Miếu Tháp () ở Võ Châu (), v.v., đều có quy chế kiến tạo khác xa với truyền thống của Trung Quốc. Về phía Nhật Bản, vào tháng 2 năm thứ 14 (585) đời Mẫn Đạt Thiên Hoàng (, Bidatsu Tennō, tại vị 572-585), đại thần Tô Ngã Mã Tử (, Soga-no-Umako, ?-626) kiến lập một ngôi tháp trên phía Bắc đồi Đại Đã (, Ōno); trên đầu trụ tháp có an trí Xá Lợi do nhóm Tư Mã Đạt () dâng cúng. Đây được xem như là Tháp Đầu tiên tại đất nước Phù Tang này. Đến năm thứ 15 (606) đời Suy Cổ Thiên Hoàng (, Suiko Tennō, tại vị 592-628), Thánh Đức Thái Tử (, Shōtoku Taishi, 574-622) tạo lập một ngôi Ngũ Trùng Tháp (, tháp năm tầng) tại Pháp Long Tự (, Hōryū-ji), cho đến nay vẫn còn và được đánh giá như là tháp bằng gỗ tối cổ của Thế Giới. Theo Tục Nhật Bản Kỷ (, Shokunihongi) quyển 30 cho biết, vào năm thứ 8 (764) niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự (), Hiếu Khiêm Thiên Hoàng (, Kōken Tennō, tại vị 749-758) Phát Nguyện tạo dựng 1.000.000 ngôi tháp 3 tầng bằng gỗ, cao 15 thước, mãi cho đến năm đầu (770) niên hiệu Bảo Quy () mới hoàn thành; đem an trí tại các chùa trên toàn quốc. Về chủng loại của tháp thì có rất nhiều, lấy dạng thức mà Phân Biệt, có các loại như tháp hình thức như cái bát úp xuống, tháp như khám thờ, tháp hình trụ, tháp nhạn, tháp nhà, tháp không vách, tháp Lạt Ma, tháp 37 tầng, tháp 17 tầng, tháp 15 tầng, tháp 13 tầng, tháp 9 tầng, tháp 7 tầng, tháp 5 tầng, tháp 3 tầng, tháp vuông, tháp tròn, tháp hình lục giác, tháp hình bát giác, Đại Tháp, tháp Đa Bảo, tháp Du Kỳ (), tháp Bảo Khiếp Ấn (), tháp 5 vòng tròn, tháp quả trứng, tháp vô phùng, tháp kiểu lầu gác, tháp mái rèm kín, tháp Kim Cang Bảo Tòa (), mộ tháp, v.v. Nếu Phân Biệt theo vật cất giữ bên trong tháp thì có tháp Xá Lợi, tháp tóc, tháp móng tay, tháp răng, tháp y áo, tháp bình bát, tháp chơn thân, tháp thân bằng tro, tháp thân đã hủy hoại, tháp bình, tháp Hải Hội (), tháp Tam Giới Vạn Linh (), tháp một chữ một viên đá, v.v. Nếu lấy vật liệu dựng tháp mà Phân Biệt thì có tháp bằng gạch nung, tháp bằng gỗ, tháp bằng đá, tháp bằng ngọc, tháp bằng cát, tháp bằng bùn, tháp bằng đất, tháp bằng phân, tháp bằng sắt, tháp bằng đồng, tháp bằng vàng, tháp bằng bạc, tháp bằng Thủy Tinh, tháp bằng Pha Lê, tháp bằng Lưu Ly, tháp bằng ngà voi, tháp bằng bảo vật, tháp bằng hương, v.v. Nếu lấy ý nghĩa tính chất mà Phân Biệt thì có tháp cầu phước, tháp báo ân, tháp Pháp Thân, tháp trường thọ, v.v. Nếu theo dạng thái của vị trí bày biện tháp mà Phân Biệt thì có tháp dạng đứng một mình, tháp dạng đối lập, tháp theo dạng hàng dọc, tháp theo dạng đứng hình vuông, v.v. Trong các dạng thức vừa nêu trên, loại tháp như cái bát úp xuống là tối cổ. Trong Thí Dụ Kinh (, Taishō Vol. 4, No. 217) có nêu ra 10 loại Công Đức Thù Thắng của việc tạo tháp: (1) Không sanh vào nước biên giới xa xôi; (2) Không chịu sự nghèo nàn khốn khổ; (3) Không có thân Ngu Si, Tà Kiến; (4)Thể Đạt được ngôi vị vua của 16 nước lớn; (5) Thọ mạng lâu dài; (6)Thể Đạt được sức mạnh Kim Cang Na La Diên (); (7)Thể Đạt được phước đức to lớn không sánh bằng; (8) Nhận được từ bi của chư Phật Bồ Tát; (9) Đầy đủ Ba Minh, Sáu Thần Thông, Tám Giải Thoát; (10) Được Vãng Sanh về cõi Tịnh Độ ở mười phương. Ngoài ra, Phật Thuyết Tạo Tháp Công Đức Kinh (, Taishō Vol. 16, No. 699), Phật Thuyết Tạo Tháp Diên Mạng Công Đức Kinh (, Taishō Vol. 19, No. 1026), v.v., cũng nêu ra các Công Đức như được sống lâu, sanh lên cõi trời, diệt 5 tội Vô Gián, Thành Phật, v.v. Riêng trong Hữu Nhiễu Phật Tháp Công Đức Kinh (, Taishō Vol. 16, No. 700) nhấn mạnh rằng nhiễu quanh tháp thì có thể xa lìa tám nạn, đầy đủ Sắc Tướng kỳ diệu, có được phước mạng, của báu, cho đến làm thầy của Trời và người, v.v. Đề Vị Kinh () cũng nêu ra 5 loại Công Đức của việc nhiễu quanh tháp: (1) Đời sau có được tướng tốt đoan chánh; (2) Được âm thanh tốt; (3) Được sanh lên cõi Trời; (4) Được sanh vào nhà vương hầu; (5) Chứng Quả Niết Bàn. Nhiễu quanh tháp có hình thức nhất định là thường đi nhiễu bên phải, đầu cúi thấp nhìn xuống đất, không được đạp nhầm lên côn trùng trên mặt đất, không được nhìn hai bên phải trái, không được khạc nhổ trước tháp, không được đứng trong tháp nói chuyện với người. Bên cạnh việc tạo tháp, Nhiễu Tháp như vừa nêu trên, việc tu sửa tháp, quét tháp, Lễ Bái tháp, v.v., cũng đều có Công Đức không phải nhỏ. Trong Đại Đường Tây Vức Ký (西, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 7, chương Ni Ba La Quốc (), có đoạn: “Tinh Xá Tây Nam hữu thạch Tốt Đổ Ba, Vô Ưu vương kiến dã (西, phía Tây Nam Tinh Xá có tháp bằng đá, do vua Vô Ưu kiến lập).”