Quán Vô Lượng Thọ Kinh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật Kinh, Vô lượng thọ Phật quán kinh, Vô lượng thọ quán kinh, Thập Lục Quán kinh. Gọi tắt: Quán kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cương Lương Da Xá dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạngtập 12. Đây là 1 trong 3 bộ kinh của Tịnh Độ giáo nói về y báo, chính báo của Thế Giới Cựclạc phương Tây. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật nhận lời thỉnh cầu của phu nhân Vi đề hi thịh iện ra cõi Tịnh Độ Cực Lạc ở phương Tây, đồng thời nói tu 3 phúc và 16 pháp Quán Tưởng để được vãng sinh. Ngài Thiện Đ ạo đời Đường cho rằng kinh này lấy Quán Phật Tam Muội và Niệm Phật Tam Muội làm Tông Chỉ. Trái với các ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn và Gia tường Cát Tạng chủ trương 16 pháp quán đều là Định Thiện; ngài Thiện Đạo lại cho 3 quán sau (Thượng bối quán, Trung bối quán, Hạ bối quán) trong 16 pháp quán thuộc về 9 phẩm, là Tán Thiện. Ngài Thiện Đạo còn cho rằng tuy đức Phật nói rộng về sự Lợi Ích của Định môn và Tán môn, nhưng trong thâm ý đức Phật chỉ muốn Chúng Sinh Chuyên Niệm Danh Hiệu Phật A di đà mà thôi. Như những câu văn trong Hạ phẩm Hạ Sinh nói (Đại 12, 346 thượng): Dốc lòng như thế, tiếng niệm không dứt, đầy đủ 10 niệm, xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Ngài Thiện Đạo dựa vào những câu văn trên mà giải thích từ ngữ Nãi Chí Thập Niệm (cho đến 10 niệm) của nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ là chỉ cho 10 tiếng xưng niệm Danh Hiệu Phật, nên ngài chủ trương Tán Tâm xưng danh là Chính Định Nghiệp được vãng sinh của tất cả Phàm Phu Thiện Ác. Sư Nguyên Không của Nhật Bản đã căn cứ vào những điều ngài Thiện Đạo nói mà sáng lập tông Tịnh Độ Nhật Bản. Vì kinh này thuộc 1 trong những Quán kinh, nên là cùng loại với các kinh như kinh Quán Phật Tam Muội hải, kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp, kinh Quán Di Lặc thướng sinh Đâu Suất Thiên, kinh Quán Thế Âm quán... kinh này nói về 3 bậc Thánh: A di đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí và về pháp Trang Nghiêm Tịnh Độ Cực Lạc. Lại trong 16 pháp quán thìA di đà Phật Chân Thân Quán (thứ 9) là pháp quán trọng yếu nhất, tên kinh cũng theo đó mà đặt. Về việc Phiên Dịch kinh này thì các bộ kinh lục cũng như Tăng truyện nói đều khác nhau. Xuất Tam Tạng kí tập quyển 4 cho rằng kinh này không rõ dịch giả. Lương Cao Tăng Truyện quyển 3 thì bảo kinh này do ngài Cương Lương Da Xá dịch vào đời Lưu Tống, Tăng Hàm ghi chép.Các bộ kinh lục khác từ Pháp Kinh lục trở xuống đều theo thuyết này. Lịch Đại Tam Bảo Kỉ quyển 4, 7, thì ngoài bản dịch của ngài Cương Lương Da Xá ra, còn liệt kê 2 Bản Không rõ dịch giả được dịch vào đời Đông Hán và Đông Tấn. Kinh này có rất nhiều sách chú thích, trọng yếu nhất là các bộ sau đây: -Vô Lượng Thọ Kinh nghĩa sớ, 2 quyển, của ngàiTuệ Viễn. -Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ, 1 quyển, của ngài Trí Khải. -Quán Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ, 1 quyển, của ngài Cát Tạng. -Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ, 4 quyển, của ngài Thiện Đạo. -Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Đồ Tụng, 1 quyển, của ngài Truyền Đăng. -Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Ước Luận, 1 quyển, của ông Bành Tế Thanh. -Quán Vô Lượng Thọ Kinh phù tân luận, 1 quyển, của ngài Giới Độ. Trong các sách chú thích trên đây, bộ Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ 4 quyển của ngài Thiện Đạo đời Đường được Lưu Thông rộng rãi hơn cả. [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 1.,5; Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục Q. 1.].