Niết Bàn Bộ
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Bộ thứ 5 trong 5 bộ kinh lớn của Đại Thừa.Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 11 gọi 6 bộ kinh gồm 58 quyển sau đây là Niết Bàn Bộ:
1. Kinh Đại Bát Niết Bàn, 40 quyển, do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Bắc Lương.2. Kinh Đại Bát Niết Bàn hậu dịch Đồ Tì phần, 2 quyển, do các ngài Nhã Na Bạt Đà La và Hội minh cùng dịch vào đời Đường.
3. Kinh Đại Bát Nê Hoàn, 6 quyển, do các ngài Pháp Hiển và Giác hiền cùng dịch vào đời Đông Tấn.
4. Kinh Phương Đẳng Bát Nê Hoàn, 2 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
5. Kinh Tứ Đồng Tử Tam Muội, 3 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy.
6. Kinh Đại Bi, 5 quyển, do các ngài Na liên đề Da Xá và Pháp trí cùng dịch vào đời Cao Tề. Duyệt Tạng Tri Tân quyển 25, thì ngoài 6 bộ của Khai Nguyên Thích Giáo Lục đã ghi ở trên, còn thêm 10 bộ 63 quyển kinh sau đây:1. Kinh Đại Bát Niết Bàn, 36 quyển, do ngài Tuệ nghiêm sửa lại vào đời Lưu Tống.
2. Kinh Đại Thừa phương quảng Tổng Trì, 1 quyển, do ngài Tì ni đa lưu chi dịch vào đời Tùy.
3. Kinh Tế chư Phương Đẳng học, 1 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
4. Kinh Tập Nhất Thiết Phúc Đức Tam Muội, 3 quyển, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần.
5. Kinh Đẳng tập chúng đức Tam Muội, 3 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
6. Kinh Ma Ha ma da, 2 quyển, do ngài Đàm cảnh dịch vào đời Tiêu Tề.
7. Kinh Đại Phương Đẳng vô tưởng, 6 quyển, do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Bắc Lương.
8. Kinh Bồ Tát xử thai, 7 quyển, do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.
9. Kinh Trung ấm, 2 quyển, do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.
10. Kinh Liên Hoa diện, 2 quyển, do ngài Na liên đề Da Xá dịch vào đời Tùy. Đại chính Tân tu Đại Tạng Kinh thì trừ 2 bộ kinh Đại Thừa phương quảng Tổng Trì và Tế chư Phương Đẳng học ghi trên ra, rồi thêm 9 bộ kinh sau:
1. Kinh Đại vân vô tưởng, quyển 9, do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.
2. Kinh Phật thùy bát Niết Bàn lược thuyết giáo giới, 1 quyển, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần.
3. Kinh Phật lâm Niết Bàn kí Pháp Trụ, 1 quyển, do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường.
4. Kinh Bát Nê Hoàn hậu Quán Lạp, 1 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
5. Kinh Phật Diệt độ hậu quan liệm táng tống, 1 quyển, mất tên người dịch.
6. Kinh Ca Diếp phó Phật Bát Niết Bàn, 1 quyển, do ngài Trúc Đàm Vô Lan dịch vào đời Đông Tấn.
7. Kinh Phật nhập Niết Bàn Mật tích Kim Cương Lực Sĩ ai luyến, 1 quyển, mất tên người dịch.
8. Kinh Đương lai biến, 1 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
9. Kinh Pháp Diệt tận, 1 quyển, mất tên người dịch. Như vậy, Niết Bàn Bộ tổng cộng gồm 23 bộ kinh, 127 quyển. [X. Đại tạng kim Cương Mục chỉ yếu lục Q. 3.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 3.; Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục Q. 21.].
1. Kinh Đại Bát Niết Bàn, 40 quyển, do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Bắc Lương.2. Kinh Đại Bát Niết Bàn hậu dịch Đồ Tì phần, 2 quyển, do các ngài Nhã Na Bạt Đà La và Hội minh cùng dịch vào đời Đường.
3. Kinh Đại Bát Nê Hoàn, 6 quyển, do các ngài Pháp Hiển và Giác hiền cùng dịch vào đời Đông Tấn.
4. Kinh Phương Đẳng Bát Nê Hoàn, 2 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
5. Kinh Tứ Đồng Tử Tam Muội, 3 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy.
6. Kinh Đại Bi, 5 quyển, do các ngài Na liên đề Da Xá và Pháp trí cùng dịch vào đời Cao Tề. Duyệt Tạng Tri Tân quyển 25, thì ngoài 6 bộ của Khai Nguyên Thích Giáo Lục đã ghi ở trên, còn thêm 10 bộ 63 quyển kinh sau đây:1. Kinh Đại Bát Niết Bàn, 36 quyển, do ngài Tuệ nghiêm sửa lại vào đời Lưu Tống.
2. Kinh Đại Thừa phương quảng Tổng Trì, 1 quyển, do ngài Tì ni đa lưu chi dịch vào đời Tùy.
3. Kinh Tế chư Phương Đẳng học, 1 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
4. Kinh Tập Nhất Thiết Phúc Đức Tam Muội, 3 quyển, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần.
5. Kinh Đẳng tập chúng đức Tam Muội, 3 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
6. Kinh Ma Ha ma da, 2 quyển, do ngài Đàm cảnh dịch vào đời Tiêu Tề.
7. Kinh Đại Phương Đẳng vô tưởng, 6 quyển, do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Bắc Lương.
8. Kinh Bồ Tát xử thai, 7 quyển, do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.
9. Kinh Trung ấm, 2 quyển, do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.
10. Kinh Liên Hoa diện, 2 quyển, do ngài Na liên đề Da Xá dịch vào đời Tùy. Đại chính Tân tu Đại Tạng Kinh thì trừ 2 bộ kinh Đại Thừa phương quảng Tổng Trì và Tế chư Phương Đẳng học ghi trên ra, rồi thêm 9 bộ kinh sau:
1. Kinh Đại vân vô tưởng, quyển 9, do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.
2. Kinh Phật thùy bát Niết Bàn lược thuyết giáo giới, 1 quyển, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần.
3. Kinh Phật lâm Niết Bàn kí Pháp Trụ, 1 quyển, do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường.
4. Kinh Bát Nê Hoàn hậu Quán Lạp, 1 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
5. Kinh Phật Diệt độ hậu quan liệm táng tống, 1 quyển, mất tên người dịch.
6. Kinh Ca Diếp phó Phật Bát Niết Bàn, 1 quyển, do ngài Trúc Đàm Vô Lan dịch vào đời Đông Tấn.
7. Kinh Phật nhập Niết Bàn Mật tích Kim Cương Lực Sĩ ai luyến, 1 quyển, mất tên người dịch.
8. Kinh Đương lai biến, 1 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
9. Kinh Pháp Diệt tận, 1 quyển, mất tên người dịch. Như vậy, Niết Bàn Bộ tổng cộng gồm 23 bộ kinh, 127 quyển. [X. Đại tạng kim Cương Mục chỉ yếu lục Q. 3.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 3.; Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục Q. 21.].