Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

《大方廣佛華嚴經》 dà fāng guǎng fú huá yán jīng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra: gọi tắt là Hoa Nghiêm Kinh (c: Hua-yen-ching, Jātaka: Kegonkyō ), Tạp Hoa Kinh (). Đây là một trong những bộ kinh quan trọng của Phật Giáo Đại Thừa. Hoa Nghiêm Tông (, Kegonshū) của Trung Hoa và Nhật Bản đều ý cứ vào bộ kinh này, lập ra diệu nghĩa gọi là Pháp Giới Duyên Khởi (), Sự Sự Vô Ngại (), v.v., để làm Tông Chỉ. Theo tựa đề mà luận, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh lấy pháp dụ cho Nhân Quả, nêu lên danh xưng gọi là “Lý Trí nhân pháp (, Lý Trí người và pháp)”; cho nên yếu chỉ của kinh đều ở trong đây. Từ đại () ở đây có nghĩa là bao hàm; phương () là quỹ phạm; quảng () là cùng khắp; tức nói chung Thể Dụng của Pháp Giới Nhất Tâm, rộng lớn không cùng, nên mới gọi là Đại Phương Quảng. Phật là đấng Chứng Nhập vào Pháp Giới vô tận to lớn không cùng; hoa ()Thí Dụ nhân hạnh Thành Tựu vạn đức tròn đầy; cho nên để khai diễn muôn hạnh Nhân Vị, lấy thâm nghĩa của hoa để trang sức cho quả vị Phật, nên có tên là Phật Hoa Nghiêm (). Vào ngày thứ 14 sau khi thành đạo dưới cội cây Bồ Đề, kinh này được đức Như Lai thuyết cho các Bồ Tát Thượng Vị như Văn Thù (Sanskrit: Mañjuśrī, ), Phổ Hiền (Sanskrit: Samantabhadra, ), v.v., về Pháp Môn Tự Nội Chứng. Giáo lý của Kinh Hoa Nghiêm là bánh xe pháp căn bản trong các giáo pháp, vì vậy có tên là Xưng Tánh Bản Giáo (); hơn nữa, giáo pháp này thuộc về Pháp Môn Đốn Giáo (), nên được gọi là Sơ Đốn Hoa Nghiêm (). Mặc dầu kinh này xuất phát từ Ấn Độ, nhưng vẫn chưa phát huy toàn bộ Huyền Chỉ tối cao của kinh; cho đến khi Trung Hoa thành lập Hoa Nghiêm Tông, áo nghĩa đó mới đạt đến tột đỉnh chân nghĩa. Về Phạn bản của kinh này, từ xưa đến nay vẫn có nhiều thuyết khác nhau. Theo bản Hoa Nghiêm Kinh Truyền Ký (, Taishō Vol. 51, No. 2073) quyển 1 của Sa Môn Pháp Tạng (, 643-712) của Sùng Phước Tự () ở Kinh Triệu () cho biết rằng Bồ Tát Long Thọ (Sanskrit: Nāgājruna, ) thấy kinh này dưới Long Cung, có 3 bản Thượng Trung Hạ. Trong bản Thượng và Trung, số phẩm tụng rất nhiều, với sức phàm tình thì không thể nào thọ trì được; nên ẩn tàng không truyền ra. Và bản được truyền đến nay là bản Hạ, có đến mười vạn (100.000) câu kệ và 48 phẩm (hay 38 phẩm). Về sau, Bồ Tát Thế Thân (Sanskrit: Vasubandhu, ) viết ra Thập Địa Kinh Luận (, Taishō Vol. 26, No. 1522, 12 quyển) để giải thích Phẩm Thập Địa () của kinh này. Các luận sư khác như Kim Cang Quân (), Kiên Huệ (), v.v., cũng có các luận chú về Phẩm Thập Địa. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (, Taishō Vol. 35, No. 1733) quyển 1 lại chia kinh này thành 6 bản là Hằng Bản (), Đại Bản (), Thượng Bản (), Trung Bản (), Hạ Bản () và Lược Bản (). Ngoài ra, Hoa Nghiêm Kinh Chỉ Quy (, Taishō Vol. 45, No. 1871), Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Sớ (, Taishō Vol. 35, No. 1735) quyển 3 lại nêu ra 10 tên khác của kinh như Dị Thuyết Kinh (), Đồng Thuyết Kinh (), Phổ Nhãn Kinh (), Thượng Bản Kinh (), Trung Bản Kinh (), Hạ Bản Kinh (), Lược Bản Kinh (), Chủ Bạn Kinh (), Quyến Thuộc Kinh (), Viên Mãn Kinh (滿). Lại theo Đại Trí Độ Luận (, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 100, Phạn bản của Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát Kinh (, tức Tứ Thập Hoa Nghiêm Kinh []) có tất cả mười vạn câu kệ. Tuy nhiên, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (, Taishō Vol. 31, No. 1595) quyển 15, bản dịch của Thiên Trúc Tam Tạng Chơn Đế (Sanskrit: Paramārtha, , 499-569) nhà Lương, lại cho rằng Hoa Nghiêm Kinh có trăm ngàn kệ, nên có tên là Bách Thiên Kinh (). Bản hiện tồn có ba loại: (1) Lục Thập Hoa Nghiêm (, Taishō Vol. 9, No. 278), 60 quyển, do Phật Đà Bạt Đà La (Sanskrit: Buddhabhadra, , 359-429) dịch từ năm 418-420 hay 421 (niên hiệu Nghĩa Hy [] thứ 14 đến niên hiệu Nguyên Hy [] thứ 2 hoặc Nguyên Sơ [] thứ 2) thời Đông Tấn; còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm (), Cựu Dịch Hoa Nghiêm Kinh (), Cựu Kinh (), Tấn Kinh (); tổng thành 7 nơi, 8 hội, 34 phẩm. Hoa Nghiêm Tông lấy 8 hội phân thành phần trước và phần sau; 7 hội của phần trước được thuyết trong thời gian 21 ngày sau khi đức Phật thành đạo; 1 hội của phần sau được thuyết vào thời kỳ sau. Trong khi đó, Bồ Đề Lưu Chi (Sanskrit: Bodhiruci, , 562-727) lại cho rằng 5 hội trước được thuyết vào 7 ngày đầu sau khi đức Phật thành đạo; còn 2 hội sau được thuyết vào tuần thứ hai. Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Sớ quyển 4, Trừng Quán (, 738-839) cho rằng trong 9 hội của Tân Hoa Nghiêm (, tức Bát Thập Hoa Nghiêm, theo thuyết 7 chỗ, 9 hội), 5 hội đầu được thuyết vào tuần đầu tiên; hội thứ 6, 8 và 8 thuộc vào tuần thứ 2; và hội thứ 9 có Phẩm Nhập Pháp Giới () thì thuộc về sau này. Về việc Phiên Dịch kinh này, theo Xuất Tam Tạng Ký Tập (, Taishō Vol. 55, No. 2145) quyển 9, Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký quyển 1, v.v., Phạn bản của Hoa Nghiêm Kinh Nguyên Lai có mười vạn (100.000) câu kệ, do Chi Pháp Lãnh () nhà Đông Tấn mang từ nước Vu Điền (Sanskrit: Ku-stana, ) vào ba vạn sáu ngàn (360.000) câu kệ, từ tháng 3 năm 418 (Nghĩa Hy [] thứ 14) đời vua An Đế (, tại vị 397-419); rồi được Phật Đà Bạt Đà La dịch thành 60 quyển; nên có tên gọi là Lục Thập Hoa Nghiêm. Đây là bản dịch thứ nhất. Tuy nhiên, trong dịch bản này, Phẩm Nhập Pháp Giới vẫn còn khuyết văn, và mãi cho đến năm 680 (Vĩnh Long [] nguyên niên) đời vua Huyền Tông (, 712-756) nhà Đường mới được bổ dịch. Bản Chú Sớ của kinh này thì rất nhiều, như Hoa Nghiêm Kinh Sớ (, 7 quyển) của Huệ Viễn (, 334-416); Hoa Nghiêm Kinh Sưu Huyền Phân Tề Thông Trí Phương Quỹ (, 5 quyển) của Trí Nghiễm (, 620-668); Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (, 20 quyển) của Pháp Tạng (, 643-712), v.v. (2) Bát Thập Hoa Nghiêm (, Taishō Vol. 10, No. 279), 80 quyển, do Thật Xoa Nan Đà (Sanskrit: Śikṣānanda, , 652-710) nhà Đường dịch; còn gọi là Tân Hoa Nghiêm (), Đường Kinh (); tổng thành 7 chỗ, 9 hội, 39 phẩm, là bản dị dịch của Lục Thập Hoa Nghiêm. Một vài điểm dị đồng giữa hai bản Lục Thập Hoa Nghiêm và Bát Thập Hoa Nghiêm có thể nêu ra như sau: Phạn bản của Bát Thập Hoa Nghiêm được Thật Xoa Nan Đà mang từ nước Vu Điền vào Trung Quốc thể theo lời thỉnh cầu của Võ Tắc Thiên (, tại vị 684-705); bắt đầu dịch từ tháng 3 năm 695 (Chứng Thánh [] nguyên niên) tại Biến Không Tự (), đến tháng 10 năm 699 (Thánh Lịch [] thứ 2) thì hoàn tất. Tương truyền trong khoảng thời gian này, đích thân Võ Hậu đến dịch trường, tự tay đề tên phẩm kinh. Đây được xem như là bản dịch thứ hai. So với bản Cựu Dịch Lục Thập Hoa Nghiêm, bản Tân Dịch này có văn từ lưu loát, nghĩa lý tròn đầy, cho nên được Lưu Thông thịnh hành. Kinh Điển chính của Hoa Nghiêm Tông chính là bản Bát Thập Hoa Nghiêm này. Ngoài ra, dịch bản tiếng Tây Tạng có 45 phẩm; trong đó 44 phẩm đầu tương đương với 38 phẩm trước của kinh này, phẩm thứ 45 thì tương đương với Phẩm Nhập Pháp Giới thứ
39. Về các bản Chú Sớ của Bát Thập Hoa Nghiêm, có Lược Sớ San Định Ký (, 15 quyển) của Huệ Uyển (, 673-?); Hoa Nghiêm Kinh Sớ (, 30 quyển) của Thần Tú (, 605-706); Hoa Nghiêm Kinh Sớ (, 60 quyển) của Trừng Quán (, 738-839); Hoa Nghiêm Kinh Luân Quán (, 1 quyển) của Phục Am (); Hoa Nghiêm Kinh Cương Yếu (, 80 quyển) của Hám Sơn Đức Thanh (, 1546-1623), v.v. (3) Tứ Thập Hoa Nghiêm (), 40 quyển, do Bát Nhã (Sanskrit: Prajñā, , 734-?) nhà Đường dịch; gọi đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm (, Taishō Vol. 10, No. 293); gọi tắt là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm (), còn có tên là Trinh Nguyên Kinh (). Bản này được truyền vào nước Ni Ba La (, tức Ni Bạc Nhĩ [], Nepal), là cùng với bản Hoa Nghiêm Kinh trong 9 bộ kinh Đại Thừa. Nội dung bộ kinh thuật lại việc Thiện Tài Đồng Tử (Sanskrit: Sudhana-śreṣṭhi-dāraka, ) từng đi tham vấn qua 55 (hoặc 53) vị Thiện Tri ThứcThành Tựu Hạnh Nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền. Đặc biệt, trong bản Tứ Thập Hoa Nghiêm này có nêu lên 10 Hạnh Nguyện của Phổ Hiền. Về vấn đề Phiên Dịch Bản Kinh này, vào tháng 11 năm 795 (Trinh Nguyên [] thứ 11) đời vua Đức Tông (, tại vị 779-805) nhà Đường, do Sư Tử Vương () của nước Ô Đồ (Sanskrit: Oḍra, ), Thiên Trúc (), phái Sứ Giả tiến cống Phạn bản Hoa Nghiêm Kinh vốn do tự tay nhà vua viết. Đến tháng 6 năm sau, bản này được Bát Nhã Tam Tạng () người Kế Tân (, tức Ca Tất Thí [s: Kāpiśa, ]) dịch tại Sùng Phước Tự (), Trường An (). Hai Cao Tăng Trừng Quán và Viên Chiếu () giám định dịch bản tại Giám Hư Tự (); và đến tháng 2 năm 798 (Trinh Quán thứ 14) thì hoàn tất công tác Phiên Dịch. Phạn bản của kinh này hiện bảo tồn tại thư viện của các nước như Anh, Pháp, Ấn Độ, v.v. Bản biệt dịch của kinh này có La Ma Già Kinh (, 3 quyển) của Thánh Kiên (, ?-?) nhà Đông Tấn; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm (, 1 quyển) của Địa Bà Ha La (, 613-687) nhà Đường; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm Tứ Thập Nhị Tự Quán Môn (, 1 quyển) của Bất Không (Sanskrit: Amoghavajra, , 705-774) nhà Đường, v.v. Về bản Chú Sớ của kinh có Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Sớ (, 10 quyển) của Trừng Quán; Hoa Nghiêm Kinh Biệt Hành Sớ (, 2 quyển) của Trọng Hy (, ?-?); Hoa Nghiêm Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Tu Chứng Nghi (, 1 quyển) của Tịnh Nguyên (, 1011-1088), v.v. Ngoài ra, còn có một số bản tán vịnh Thiện Tài Đồng Tử đi tham vấn chư Thiện Trí thức như Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm Nhập Pháp Giới Phẩm Tán () của Dương Kiệt (, hậu bán thế kỷ 11); Văn Thù Chỉ Nam Đồ Tán () của Phật Quốc Duy Bạch (, ?-?), v.v.