Di Lặc

《彌勒》 mí lēi

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Maitreya, Pāli: Metteyya: tức Bồ Tát Di Lặc âm dịch là Mai Đát Ma Da (), Mạt Đát Rị Da (), Di Đế Lệ (), Di Đế Lễ (), Mai Để Lê (), Mê Đế Lệ (), Mỗi Đát Rị (); ý dịch là Từ Thị (), Từ Tôn (). Bên cạnh đó, Bồ Tát còn có tên là A Dật Đa (s, Jātaka: Ajita ), dịch là Vô Năng Thắng (); cho nên có tên A Dật Đa Bồ Tát (). Hoặc A Dật Đa là họ, Di Lặc là tên. Theo Di Lặc Thượng Sanh Kinh (), Di Lặc Hạ Sanh Kinh (), Bồ Tát Di Lặc vốn sanh ra trong một gia đình Bà La Môn ở miền nam Thiên Trúc (), sau theo làm Đệ Tử của Phật, được thọ ký sẽ Thành Phật trong tương lai. Hiện tại, ngài thường trú trên cung trời Đâu Suất (Sanskrit: Tuṣita, Pāli: Tusita ). Theo truyện kể rằng, do muốn thành thục các Chúng Sanh, vị Bồ Tát này phát tâm không ăn thịt; vì Nhân Duyên đó nên có tên là Từ Thị. Tương truyền sau khi đức Phật Diệt độ khoảng 56 ức 7 ngàn vạn năm (có thuyết cho là 57 ức 6 ngàn vạn năm), từ trên cung trời, Bồ Tát Di Lặc hạ sanh xuống Nhân Gian, Xuất Gia học đạo, ngồi thành chánh giác dưới gốc cây Long Hoa (Sanskrit: nāga-puṣpa, , Mesuna roxburghii Wigh, Mesuna ferrea) trong vườn Hoa Lâm (), Thành Xí Đầu (), và Thuyết Pháp trước sau 3 lần. Đây được gọi là Long Hoa Tam Hội (), Long Hoa Tam Đình (), Di Lặc Tam Hội (), Từ Tôn Tam Hội (), hay Long Hoa (). Trong các Kinh Điển Đại Thừa, Bồ Tát Di Lặc được đề cập nhiều nơi. Tương truyền Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Sanskrit: Mahākāśyapa, Pāli: Mahākassapa ) vẫn chưa Nhập Diệt, mà còn đang Nhập Định trong Kê Túc Sơn (Sanskrit: Kukkuṭapādagiri, Kurkuṭapādagiri, Pāli: Kukkuṭapadagiri Kurkuṭapadagiri,) để chờ đợi Phật Di Lặc xuất hiện. Hay có truyền thuyết cho rằng Bồ Tát Di Lặc ở trên cung trời Đâu Suất, hạ sanh xuống cõi Ta Bà, thuyết Du Già Sư Địa Luận (); cho nên, tư tưởng Vãng Sanh về cõi Đâu Suất trở nên thịnh hành và Tín Ngưỡng Di Lặc theo đó xuất hiện. Trong Mật Giáo, Di Lặc của Thai Tạng Giới ngự trên tòa sen, phương đông bắc của Trung Đài Bát Diệp Viện (); còn Di Lặc của Kim Cang Giới thì ngự ở phương đông, Mật Hiệu là Tốc Tật Kim Cang (). Ngoài ra, Bố Đại Hòa Thượng (, ?-916) ở Huyện Phụng Hóa (), Minh Châu (), Triết Giang () được xem như là Di Lặc Hóa Thân. Trong Minh Châu Định Ứng Đại Sư Bố Đại Hòa Thượng Truyện () có thuật rõ Hành Trạng của Hòa Thượng. Ông có bài kệ nổi tiếng là: “Nhất Bát Thiên Gia phạn, cô thân vạn lí du, Thanh Mục đổ nhân thiểu, vấn lộ Bạch Vân đầu (, bình bát cơm ngàn nhà, thân chơi muôn dặm xa, mắt xanh xem người thế, mây trắng hỏi đường qua).” Sau khi thâu thần Tịch Diệt, Hòa Thượng có để lại bài kệ tại Nhạc Lâm Tự (), Huyện Phụng Hóa: “Di Lặc chơn Di Lặc, Phân Thân thiên bách ức, thời thời thị thời nhân, thời Nhân Tự bất thức (, Di Lặc đúng Di Lặc, Phân Thân trăm ngàn ức, luôn luôn dạy mọi người, bấy giờ chẳng ai biết).” Từ đó, người ta tạc tượng Hòa Thượng để tôn thờ như là Phật Di Lặc. Trong Động Thượng Già Lam Chư Đường An Tượng Ký () quy định trong 3 tôn tượng an trí tại Chánh Điện, có tượng Di Lặc, ghi rõ rằng: “Chi Na Thiên Đồng Sơn Phật Điện, an Thích Ca Di Đà Di Lặc, nhi ngạch ư Tam Thế Như Lai tứ tự dã. Nhật Bản Vĩnh Bình hiệu chi, Đông Sơn Tuyền Dũng Tự diệc thị dã; án Tuyền Dũng Tự Điện Đường sắc mục vân, Phật Điện giả an trí Thích Ca, Di Đà, Di Lặc, Tam Thế chi giáo chủ, dĩ vi nhất tự sùng ngưỡng chi bổn tôn dã. Đại Đường chư tự phổ giai như thử vân vân, y chi tắc an Tam Thế Như Lai giả, bất đản Thiên Đồng dư ? (殿殿殿, Điện Phật của Thiên Đồng Sơn ở Trung Quốc an trí Thích Ca, Di Đà và Di Lặc; trên biển đề bốn chữ 'Tam Thế Như Lai [Như Lai Ba Đời]'. Vĩnh Bình Tự của Nhật Bản bắt chước theo; Tuyền Dũng Tự ở vùng Đông Sơn cũng như vậy. Căn cứ bản Danh Mục các ngôi Điện Đường của Tuyền Dũng Tự, nơi Chánh Điện án trí các đức giáo chủ của ba đời là Thích Ca, Di Đà và Di Lặc, để làm các tôn tượng thờ phụng của chùa. Những ngôi chùa của nước Đại Đường [Trung Quốc] thảy đều như vậy, v.v.; nương theo đó mà an trí các đức Như Lai của ba đời, không phải chỉ có Thiên Đồng Sơn mà thôi đâu).” Tại Điện Di Lặc của Thủy Liêm Tự () ở Đồng Bá Sơn (), Tỉnh Hà Nam () có câu đối tán dương Bồ Tát Di Lặc rằng: “Khai khẩu tiện tiếu tiếu cổ tiếu kim phàm sự phó chi nhất tiếu, đại đỗ năng dung dung thiên dung địa ư nhân hà sở bất dung (便, mở miệng là cười cười xưa cười nay mọi sự phó cho nụ cười, bụng lớn bao dung dung trời dung đất với người chỗ nào chẳng dung).”