Cưu Ma La Thập

《鳩摩羅什》 jiū mó luó shén

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Kumārajīva, Jātaka: Kumarajū 344-413, có thuyết cho là 350-409: âm dịch tiếng Phạn là Cứu Ma La Thập (), Cưu Ma La Thập Bà (), Cưu Ma La Đổ Bà (), Cưu Ma La Thời Bà (), Câu Ma La Đổ Bà (), gọi tắt là La Thập (), ý dịch là Đồng Thọ (), còn gọi là La Thập Tam Tạng (). Ông người gốc nước Quy Tư (, thuộc vùng Sớ Lặc [], Tân Cương []), một trong 4 nhà Dịch Kinh vĩ đại của Trung Quốc. Cả cha mẹ ông đều tin thờ Phật. Cha là Cưu Ma La Viêm (), gốc người Ấn Độ, từ bỏ ngôi vị Tể Tướng và Xuất Gia. Sau đó, ông đi du hóa khắp nơi, đến nước Quy Tư thuộc trung ương Châu Á, được Quốc Vương nước này kính mộ, rồi kết hôn với em gái nhà vua là Đổ Bà () và sanh ra được một người con. Tên của Cưu Ma La Thập được hợp thành bởi tên cha (Cưu Ma La Viêm) và mẹ (Đổ Bà). Lúc nhỏ La Thập đã thông mẫn, năm lên 7 tuổi theo cha Nhập Đạo tu tập, rồi đi du học khắp xứ Thiên Trúc (), Tham Cứu khắp các bậc tôn túc nổi tiếng đương thời, nghe rộng và ghi nhớ kỹ, nên tiếng tăm vang khắp. Sau đó ông trở về cố quốc, nhà vua trong nước tôn kính ông làm thầy. Vua Phù Kiên () nhà Tiền Tần () nghe đức độ của ông, bèn sai tướng Lữ Quang () đem binh đến rước ông. Lữ Quang chinh phạt miền Tây giành thắng lợi, rồi đến nghênh đón La Thập về kinh, nhưng giữa đường nghe Phù Kiên qua đời, bèn tự xưng vương ở Hà Tây (西), do đó La Thập phải lưu lại Lương Châu () 16, 17 năm. Mãi cho đến khi Diêu Hưng () nhà Hậu Tần tấn công dẹp tan nhà họ Lữ, La Thập mới có thể đến Trường An () được, tức là sau khi Đạo An () qua đời 16 năm. Lúc bấy giờ là năm thứ 5 (401) niên hiệu Long An () nhà Đông Tấn. Diêu Hưng bái ông làm Quốc Sư, thỉnh ông đến trú tại Tiêu Dao Viên (), cùng với Tăng Triệu (), Tăng Nghiêm () tiến hành công tác Dịch Kinh. Từ đó về sau, vào tháng 4 năm thứ 5 (403) niên hiệu Hoằng Thỉ () nhà Hậu Tần (), La Thập bắt đầu dịch Trung Luận (), Bách Luận (), Thập Nhị Môn Luận (), Bát Nhã (), Pháp Hoa (), Đại Trí Độ Luận (), A Di Đà Kinh (), Duy Ma Kinh (), Thập Tụng Luật (), v.v. Có nhiều thuyết khác nhau về số lượng kinh luận do ông Phiên Dịch. Xuất Tam Tạng Ký Tập () cho là 35 bộ, 294 quyển. Khai Nguyên Thích Giáo Lục () là 74 bộ, 384 quyển. Từ khi Phật Giáo được truyền vào Trung Hoa, số lượng Kinh Điển Hán dịch ngày càng tăng nhiều, tuy nhiên lối dịch phần nhiều không thông suốt, văn chương khó hiểu, chẳng nhất trí với nguyên bản. Riêng La Thập thì vốn thông hiểu nhiều ngôn ngữ ngoại quốc, cho nên nội dung Phiên Dịch của ông hoàn toàn khác xa với các dịch bản trước đây, văn thể tuy giản dị nhưng súc tích, rõ ràng. Suốt đời La Thập đã đem tất cả năng lực của mình để Phiên Dịch các Kinh Điển Đại Thừa thuộc hệ Bát Nhã, cùng với những luận thư của học phái Trung Quán thuộc hệ Long Thọ (), Đề Bà (). Những Kinh Điển Hán dịch của ông có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với sự phát triển Phật Giáo ở Trung Hoa. Sau này Đạo Sanh () truyền Trung Luận, Bách LuậnThập Nhị Môn Luận về phương Nam, kinh qua Tăng Lãng (), Tăng Thuyên (), Pháp Lãng (), cho đến Cát Tạng () nhà Tùy thì hình thành hệ thống Tam Luận Tông, và thêm vào Đại Trí Độ Luận () để thành lập học phái Tứ Luận. Ngoài ra, Kinh Pháp Hoa () do ông Phiên Dịch đã tạo Nhân Duyên cho Thiên Thai Tông ra đời; Thành Thật Luận () là điển tịch trọng yếu của Thành Thật Tông; A Di Đà Kinh () cũng như Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận () là kinh luận sở y của Tịnh Độ Tông. Bên cạnh đó, Di Lặc Thành Phật Kinh () giúp cho Tín Ngưỡng Di Lặc phát triển cao độ; Phạm Võng Kinh () ra đời làm cho toàn Trung Quốc được truyền Đại Thừa Giới; Thập Tụng Luật () trở thành tư liệu nghiên cứu quan trọng về Luật học. Môn hạ của La Thập có hơn 3.000 người, trong số đó những nhân vật kiệt xuất có Đạo Dung (), Tăng Duệ (), Tăng Triệu (), Đạo Sanh (), Đàm Ảnh (), Huệ Quán (), Đạo Hằng (), Đàm Tế (), Tăng Đạo (), v.v. Ông được kính ngưỡng như là vị tổ của Tam Luận Tông. Vào năm thứ 9 (413, có thuyết cho là năm thứ 5 [409]) niên hiệu Nghĩa Hy (), ông Thị Tịch, hưởng thọ 70 tuổi.