Tứ Độ

《四土》 sì tǔ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là Tứ Phật Độ (), Tứ Chủng Phật Độ (), Tứ Chủng Tịnh Độ (), Tứ Chủng Quốc Độ (); nghĩa là 4 loại Quốc Độ Phật. Có nhiều thuyết khác nhau về quan niệm này. Đại Sư Trí Khải (, 538-397), Tổ sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, lập ra 4 loại Phật Độ là Phàm Thánh Đồng Cư Độ (), Phương Tiện Hữu Dư Độ (便), Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ (), Thường Tịch Quang Độ (). (1) Phàm Thánh Đồng Cư Độ, còn gọi là Nhiễm Tịnh Đồng Cư Độ (), Nhiễm Tịnh Quốc (); chỉ Quốc Độ cùng tồn tại chung của hạng Phàm Phu thuộc hai cõi Trời người và chư vị Thánh như Thanh Văn (Sanskrit: śrāvaka, ), Duyên Giác (Sanskrit: pratyeka-buddha, Pāli: pacceka-buddha ). Trong đó, cõi này được chia thành 2 loại là tịnh và uế, như Thế Giới Ta Bà (s, Pāli: sahā ) là Đồng Cư Uế Độ (), Tây Phương Cực Lạc (西) là Đồng Cư Tịnh Độ (). (2) Phương Tiện Hữu Dư Độ, còn gọi là Phương Tiện Độ (便), Hữu Dư Độ (); chỉ cho Quốc Độ của những bậc Thánh tu đạo Phương Tiện, đã đoạn tận Kiến, Tư, Hoặc như Bích Chi Phật (), A La Hán (Sanskrit: arhat, Pāli: arahant ), v.v.; nên được gọi là Phương Tiện (s, Pāli: upāya 便), nhưng chưa đoạn tận sự mê mờ về Vô Minh trần sa, mới có tên là Hữu Dư (, vẫn còn dư, còn sót). Cõi này còn được gọi là Biến Dịch Độ (). (3) Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ, còn gọi là Thật Báo Độ (), Quả Báo Độ (), là Quốc Độ của chư vị Bồ Tát (Sanskrit: bodhisattva, Pāli: bodhisatta ) đã đoạn trừ một phần của Vô Minh (Sanskrit: avidyā, Pāli: avijjā ), không có hàng Phàm Phu của Hai Thừa. Đây là Quốc Độ Tự Tại vô ngại của đạo Chân Thật, nên có tên gọi như vậy. (4) Thường Tịch Quang Độ, còn gọi là Lý Tánh Độ (); là trú xứ của chư Phật đã đoạn tận Căn Bản Vô Minh, tức là Quốc Độ của chư Phật Chứng Quả Diệu Giác Cứu Cánh. Thường nghĩa là thường có Pháp Thân (Sanskrit: dharma-kāya, ), vốn có thể thường trú; Tịch ở đây là giải thoát, tức hết thảy các tướng vĩnh viễn vắng lặng; Quang là Bát Nhã (Sanskrit: prajñā, Pāli: paññā ), tức là trí tuệ chiếu soi các tướng; nên cõi này cũng là Quốc Độ của ba đức Thường Trú (Pháp Thân), Tịch Diệt (Giải Thoát)Quang Minh (Bát Nhã). Ba đức này có tên là Mật Tạng (), là nơi nương tựa của chư Phật Như Lai; vì vậy mới được gọi là Thường Tịch Quang Độ. Bên cạnh đó, Pháp Thường (, 567-645), Trí Nghiễm (, 602-668), Đạo Tuyên (, 596-667) và Huyền Uẩn (, ?-?, tức Đạo Thế [], người soạn bộ Pháp Uyển Châu Lâm []) có lập ra Tứ Độ khác do chư Phật cư trú, gồm: (1) Hóa Tịnh Độ (), do chư Phật biến hiện ra 7 loại báu, 5 Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc); nhờ Thần Lực của Phật mà mặt đất mềm mại, không có gò trũng, cát đá, v.v., giống như cõi Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc, tùy theo tâm Chúng Sanh muốn thấy mà hóa hiện ra; và đây cũng là Quốc Độ của Hóa Thân (Sanskrit: nirmāṇa-kāya, ). (2) Sự Tịnh Độ (), lấy 7 loại báu, 5 Trần làm hình tướng của Quốc Độ. Trong cõi này, có đầy đủ các loại trân bảo Trang Nghiêm vi diệu; giả như Thế Giới bị bốc lửa cháy rực, đức Như Lai trú trong đó vẫn đi Kinh Hành, vẫn An Nhiên đi đứng nằm ngồi, cõi ấy tự nhiên từ trong đất hiện ra nước có Tám Công Đức, làm cho mát mẻ. Đây là Quốc Độ của Tha Thọ Dụng Thân (, tức Ứng Thân [s: nirmāṇa-kāya, ]). (3) Thật Báo Tịnh Độ (), Quốc Độ lấy Hai Không là cửa, Ba Tuệ làm con đường ra vào; Xa Ma Tha (Sanskrit: samatha, , Thiền Định), Tỳ Bát Xá Na (Pāli: vipassanā, , Quán) làm cỗ xe; Căn Bản Vô Phân Biệt Trí () làm dụng. Đây là Quốc Độ của Tự Thọ Dụng Thân (, tức Báo Thân [s: sambhoga-kāya, ]). (4) Pháp Tánh Tịnh Độ (), Quốc Độ lấy Chân Như làm thể, là cõi của Pháp Thân. Ngoài ra, Duy Thức Tông lại lập ra 4 loại Quốc Độ khác là: (1) Pháp Tánh Độ (), còn gọi là Tự Tánh Thân Y Pháp Tánh Độ (). Tự Tánh Thân tức là Pháp Thân, lấy tự tánh Chân Như làm thân, thể không Sai Biệt, không bị Sắc Tướng thâu nhiếp, giống như Hư Không, biến khắp tất cả nơi. (2) Tự Thọ Dụng Độ (), còn gọi là Tự Thọ Dụng Thân Y Tự Thọ Dụng Độ (), tức là Thật Báo Độ (), là do đức Phật lấy Tương Ứng Tịnh Thức () tu mà Thành Tựu nên; từ khi mới Thành Phật cho đến tận cùng tương lai, liên tục biến thành Quốc Độ Phật thuần tịnh, chu vi không giới hạn, các loại báu Trang Nghiêm. Tự Thọ Dụng Thân nương vào cõi này mà trú. (3) Tha Thọ Dụng Độ (), còn gọi là Tha Thọ Dụng Thân Y Tha Thọ Dụng Độ (), cũng là Thật Báo Độ. Đức Phật lấy năng lực Đại Từ Bi, tùy theo sự thích nghi của các Bồ Tát trong Thập Địa (Sanskrit: daśa-bhūmi, ) mà biến thành cõi Tịnh Độ. Tha Thọ Dụng Thân nương vào cõi này mà trú. (4) Biến Hóa Độ (), còn gọi là Biến Hóa Thân Y Biến Hóa Độ (). Đức Phật lấy năng lực Đại Từ Bi, tùy theo sự thích nghi của Chúng Sanh có duyên mà biến hóa thành. Trong Liên Tu Khởi Tín Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 3 có đoạn: “Tứ Độ Liên Hoa Tứ Độ hương, độ trung các các kiến Từ Vương, Quan Âm thường hoán si nhân tỉnh, Đại Thế tần thôi liên ngạc phương, Tự Tại nhàn vân Tam Muội đắc, thanh u Cam Lộ Nhất Tâm lương (, Bốn Cõi Hoa Sen Bốn Cõi thơm, cõi ấy mỗi mỗi thấy Từ Vương, Quan Âm thường gọi người mê tỉnh, Thế Chí luôn bày sen ngát hương, Tự Tại mây nhàn Tam Muội chứng, an lành Cam Lộ tâm mát trong).” Hay trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tuyển Định Tịnh Độ Thập Yếu (, Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1164) quyển 9 có câu: “Nhất Chân Pháp Giới tánh, bất biến năng Tùy Duyên, Tam Thân cập Tứ Độ, tất do tâm biến khởi (, tánh Pháp Giới nhất chân, chẳng biến thường Tùy Duyên, Ba Thân và Bốn Cõi, tất do tâm biến hóa).”