Quang Tụ Phật Đỉnh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Tejoràzyuwịìwa # hoặcUwịìwatejoràzi. Hán âm: Đế nho ra thi u sắt ni sái. Cũng gọi Hỏa tụ Phật đính, Hỏa quang Phật đính, Phóng quang Phật đính, Quang tụ Phật đính luân vương. Vị tôn ngồi ở vị trí thứ 4 đầu hàng dưới bên phải đức Trung tôn Thích Ca Mâu Ni trong viện Thích Ca của Mạn Đồ La Thai Tạng Giới Mật giáo, là 1 trong 5 và 1 trong 8 vị Phật đính. Vì vị tôn này dùng Quang Minh của Phật để tụ họp Chúng Sinh nên gọi là Quang tụ, Mật Hiệu là Thần Thông Kim Cương. Hình Tượng của vị tôn này thân có màu vàng ròng, ngồi trên hoa sen đỏ, bàn tay phải dựng nghiêng, co ngón vô danh, ngón út, tay trái để ở ngang eo, cầm hoa sen, trên hoa có hình Phật đính. Về thân sắc và tòa sen của vị tôn này, trong các kinh quĩ còn có những thuyết khác nhau. Hình Tam Muội da là hình Phật đính trên hoa sen(hoặc là hình vật báu trên hoa sen màu vàng). Theo kinh Đại nhật quyển 4 và Tứ bộ nghi quĩ, ấn khế của vị tôn này là chắp tay để rỗng ở giữa (1 trong các ấn mẹ của Thủ Ấn), đầu ngón của 2 ngón vô danh và 2 ngón út hợp nhau để vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ để dính vào lưng 2 ngón giữa và dựng đứng 2 ngón cái, tức là thành hình Phật đính. Nếu thường niệm Công Năng của vị tôn này thì có năng lực phá hoại được sức mạnh của các Chân Ngôn Thế Gian và xuất Thế Gian, xua đuổi được quỉ mị khó Điều Phục mà Thành Tựu tất cả Đại Phật sự. Cứ theo Quảng đại nghi quĩ, Huyền pháp tự nghi quĩ và Thanh Long Tự nghi quĩ, thì Chân Ngôn của vị tôn này là: Qui mệnh đát lăng (trìm, Chủng Tử) đế nho ra thi (tejoràzi, quang tụ) u sắc ni sái (uwịìwa, Phật đính) sa phạ hạ (svàhà). [X. kinh Bồ Đề Đạo Tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q. 1.; kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Đại Nhật Kinh Sớ Q. 5., 6]. (xt. Bát Phật Đính, Ngũ Phật Đính).