Quang Minh Bản Tôn

《光明本尊》 guāng míng běn zūn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Quang Minh bản, Hội hệ đồ. Bức tranh vẽ theo Mạn Đồ La: Trong ánh sáng của Phật A di đà (Bản Tôn), lấy Danh Hiệu Di đà làm trung tâm, chung quanh vẽ Phật, Bồ Tát hoặc tượng các vị Tổ Sư của tông Tịnh Độ để biểu thị sự truyền thừa của Tịnh Độ giáo. Hội hệ đồ vốn là loại sách phổ hệ dùng để vẽ hệ phái của Tín Đồ, về sau, hoặc chịu ảnh hưởng của sổ danh bộ và Quang Minh Bản Tôn mà trở thành loại tranh vẽ đại biểu cho sự truyền thừa. Vị tăng Nhật bản là ngài Giác Như thường răn dạy Tín Đồ không nên dùng loại Hệ hội đồ dị nghĩa này, nhưng hệ phái thuộc Phật Quang Tự tại Nhật Bản cho đến nay vẫn sử dụng. Chính giữa Hội hệ đồ viết: Nam Mô Bất Khả Tư Nghị quang Như Lai (tức tôn xưng đức Phật A di đà, mỗi chữ đều phóng ra ánh sáng. Nửa dưới phía bên trái viết: Nam Mô A Di Đà Phật; nửa dưới phía bên phải viết: Qui mệnh Tận Thập Phương vô ngại Quang Như Lai; ở chính giữa phía dưới bên trái vẽ tượng Phật Di đà, phía dưới bên phải vẽ tượng Phật Thích Ca, đều là tượng đứng. Bên ngoài phía trái vẽ tượng Bồ Tát Đại Thế Chí và các bậc Tiên Đức Ấn Độ như: Long Thụ, Thiên thân, Bồ Đề Lưu Chi... Bên ngoài phía trái vẽ tượng các bậc Tiên Đức Trung Quốc như: Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo, Hoài Cảm, Thiếu Khang, Pháp Chiếu... và các Tiên Đức Nhật Bản Như: Thái tử Thánh Đức, Tăng Đô Huệ Tâm, Nguyên Không, Thân Loan, Tín Không, Thánh Giác Pháp Ấn... Ngoài ra còn có nhiều kiểu Hội hệ đồ khác. [X. Biện thuật danh thể sao; Cổ bản Tùng Lâm tập Q. 4.; Cải Tà Sao Q.thượng; Thực ngộ kí thập di; Dị nghĩa tập Q. 7.; Tịnh Độ Chân Tông Bản Tôn khảo].