Pháp Hoa Kinh Thập Thất Danh

《法華經十七名》 fǎ huá jīng shí qī míng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Mười bảy tên của kinh Pháp hoa. Trong tác phẩm Pháp hoa kinh luận của mình, ngài Thế Thân có nêu ra 17 tên gọi khác nhau của kinh Pháp hoa để hiển bày ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm không thể nghĩ bàn của kinh này. Đó là:
1. Vô lượng nghĩa kinh (Phạm: Mahànirdeza): Đức Phật muốn nói về lí Nhất Thực tướng của Pháp hoa, nên trước hết Ngài nói Vô lượng nghĩa xứ, đem vô lượng nghĩa này qui về lí Nhất Thực tướng.
2. Tối thắng Tu Đa La (Phạm:Sùtrànta): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, là Diệu Pháp hơn hết trong Tam Tạng, không có kinh nào sánh bằng.
3. Đại Phương Quảng kinh (Phạm: Mahà-vaipulya): Kinh Pháp hoa chỉ bàn về lí Nhất Thừa thực tướng, đầy đủ 3 nghĩa: Đại (rộng lớn), Phương (chính lí) và Quảng (trùm khắp).
4. Giáo Bồ Tát pháp (Phạm: Bodhisattvàvavàda): Kinh Pháp hoa chỉ bàn về lí Nhất Thừa thực tướng mà đức Như Lai dùng để giáo hóa tất cả Bồ Tát đã Thành Tựu Thiện Căn, tùy thuận Pháp Khí, khiến chứng được quả vị Phật.
5. Nhất Thiết chư Phật sở Hộ Niệm (Phạm: Sarva-buddha-parigraha): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng mà đức Phật đã tự Chứng Đắc và được hết thảy chư Phật Hộ Niệm. Tuy muốn mở bày cho Chúng Sinh, nhưng vì Căn Cơ của họ còn thấp kém, nên Ngài tạm thời im lặng không vội nói ra.
6. Nhất Thiết chư Phật Bí Mật pháp (Phạm: Sarva-buddha-rahasya): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, pháp này rất sâu xa, huyền nhiệm, là pháp Bí Mật của hết thảy chư Phật và chỉ có chư Phật chứng biết được.
7. Nhất Thiết chư Phật chi tạng(Phạm: Sarva-buddha-nigùđha): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, Công Đức Tam Muội của tất cả các đức Như Lai đều bao hàm trong kinh này.
8. Nhất Thiết chư Phật Bí Mật xứ (Phạm: Sarva-buddha-guhya-sthàna): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, đó là tạng Bí Mật của hết thảy chư Phật. Vì Thiện Căn của Chúng Sinh chưa chín mùi, chưa đủ khả năng để lãnh nhận Diệu Pháp, nên đức Phật không vội diễn nói cho họ.
9. Năng sinh Nhất Thiết Chư Phật Kinh (Phạm: Sarva-buddha-jàti): Kinh Pháp hoa chỉ bàn về lí Nhất Thừa thực tướng, chư Phật trong 3 đời (Quá Khứ, hiện tại, vị lai) đều nhờ pháp này mà Thành Tựu Đạo Quả Đại Bồ Đề.
10. Nhất Thiết chư Phật chi Đạo Tràng (Phạm: Sarva-buddha-bodhi-maịđa): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, đó là Đạo Tràng của tất cả chư Phật; người nghe pháp này thì có thể Thành Tựu được Đạo Quả Bồ Đề.
11. Nhất Thiết chư Phật sở Chuyển Pháp Luân (Phạm: Sarva-buddhadharma-cakra-pravartana): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, chư Phật ra đời đều dùng Pháp Môn này để quay bánh xe Pháp Diệt trừ Phiền Não Chướng cho hết thảy Chúng Sinh, làm cho họ được giải thoát.
12. Nhất Thiết chư Phật Kiên Cố Xá Lợi (Phạm: Sarva-buddhaika-ghana-zarìra): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, đó là Xá Lợi của Pháp Thân Phật mà từ xa xưa đến nay không đổi dời, không hư hoại.13. Nhất Thiết chư Phật đại xảo Phương Tiện kinh (Phạm: Sarvopàyakauzalya): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, chư Phật nhờ Pháp Môn này mà đã Thành Tựu Đại Bồ Đề, trở lại dùng Phương Tiện Thiện Xảo rộng lớn diễn nói pháp Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên GiácBồ Tát khiến Chúng Sinh Ngộ Nhập cảnh giới Phật.
14. Thuyết Nhất Thừa Kinh (Phạm: Ekayàna-nirdeza) Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, hiển bày thể tính Bồ Đề rốt ráo của chư Phật, chẳng phải là chỗ mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác có thể chứng được.
15. Đệ nhất nghĩa trụ (Phạm: Paramàrtha-nirhàra-nirdeza): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, đó là chỗ an trụ tột cùng của Pháp Thân Như Lai.
16. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Phạm: Saddharma-puịđarìka): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng. Kinh này dùng hoa sen làm Thí Dụ, bởi vì Diệu Pháp tức là quyền thực Nhất Thể, mà hoa sen thì hoa quả đồng thời.
17. Tối thượng Pháp Môn (Phạm: Dharma-paryàya): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất Thừa thực tướng, vô lượng pháp nghĩa được hiển bày trong các kinh đều chứa đựng trong kinh này, vì thế kinh này là Thù Thắng hơn hết trong các kinh.