Khất Thực

《乞食》 qǐ shí

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm:Paiịđapàtika. Pàli: Piịđapàta. Cũng gọi Đoàn đọa, Phần vệ, Thác Bát, Hành khất. Hành Nghi của tăng sĩ Ấn Độ, đi xin thức ăn của mọi người để nuôi dưỡng Sắc Thân, là 1 trong 12 hạnh Đầu Đà. Khất Thực vốn có 2 ý nghĩa:
1. Tự lợi: Dứt bỏ tất cả các việc Thế Tục, làm Phương Tiện tu đạo.
2. Lợi tha: Tạo cơ hội cho Chúng Sinh gieo nhân Phúc Đức. Khất Thực thuộc về Chính Mệnh của tăng sĩ, nếu tự kinh doanh, buôn bán để mưu sinh là Tà Mệnh. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 47 và Tì ni thảo yếu quyển 6 thì khi vào thành Khất Thực, phải đi sát bên lề đường, tay trái cầm bình bát, theo thứ tự Khất Thực, cốt để duy trì mệnh sống, tâm không tham đắm, cho nên khi được thức ăn không mừng, không được cũng không lo, chỉ lấy việc trừ bệnh đói, nuôi dưỡng khí lực làm chính. Lại theo kinh Pháp tập quyển 1, thì việc đức Như Lai đi Khất Thực có 3 nghĩa:
1. Không tham đắm vị ngon: Ngon, dở đều Bình Đẳng.
2. Để phá trừ Ngã Mạn: không Phân Biệt nhà giàu, nghèo.
3. Từ bi Bình Đẳng: Làm Lợi Ích lớn cho Chúng Sinh. Tỉ khưu Ca Lưu Đà Di có sắc mặt đen thui vào thành Khất Thực lúc gần tối, trời mưa gió sấm chớp, khi ấy có người đàn bà đang mang thai, trông thấy Ca Lưu Đà Di tưởng lầm là quỉ, bà ta sợ hãi quá đến nỗi bị sẩy thai. Vì việc này mà đức Phật liền chế giới cấm Khất Thực sau giờ Ngọ. Theo kinh Bảo vũ quyển 8, thì Bồ Tát đi Khất Thực là để Thành Tựu 10 pháp:
1. Nhiếp thụ Chư Hữu tình: Bồ Tát thấy tất cả loài hữu tình chịu các nổi khổ não, tuy có thể Thành Tựu chút ít Thiện Căn, nhưng thời gian thực hành chẳng được bao lâu. Vì muốn thu nhiếp và làm Lợi Ích cho các hữu tình nên Bồ Tát đi Khất Thực.
2. Thứ tự: Khi vào thành ấp, làng xóm, giữ gìn Chính Niệm, đầy đủ uy nghi, các căn tĩnh lặng, theo thứ tự Khất Thực, không bỏ nhà nghèo để đến nhà giầu (chỉ trừ các nhà hung ác và chỗ ở của các Ngoại Đạo).
3. Bất bì yếm(mỏi mệt, nhàm chán): Bồ Tát khi theo thứ tự đi Khất Thực Không Sinh tâm nhàm chán, xa lìa, cũng không mỏi mệt, đối với các hữu tình, không có tâm thương, ghét.
4. Tri túc(biết đủ): Vì không mỏi mệt nhàm chán nên biết đủ.
5. Phân bố: Sau khi được thức ăn, dù ngon dù dở đều phải nhận lấy, rồi trở về chỗ mình ở, trước dâng lên cúng dường tượng đức Như Lai Hoặc Trước tháp Xá Lợi, rồi chia thức ăn mình xin được làm 4 phần, 3 phần thí cho những người đồng tu, những người nghèo cùng và những Chúng Sinh trong đường ác, phần còn lại thì mình ăn.
6. Bất đàm thị: Bồ Tát tuy ăn nhưng đối với việc ăn không tham đắm, không Nhiễm Trước.
7. Tri lượng: Ăn cốt để sống, nếu ăn ít quá, thể lực suy yếu, sẽ ảnh hưởng đến việc tu trì, còn nếu ăn quá no thì dễ tăng trưởng sự ngủ nghỉ.
8. Thiện phẩm Hiện Tiền: Bồ Tát ăn uống đúng Như Pháp, có thể làm cho các Thiện Căn Hiện Tiền thêm lớn.
9. Thiện Căn viên mãn: Bồ Tát siêng năng tu tập, không biếng nhác, nên được tư lương Bồ Đề viên mãn.
10. Li Ngã Chấp: Nhờ tất cả những thiện phẩm, Thiện Căn ấy mà Thành Tựu được thất Bồ Đề Phần, xa lìa Ngã Chấp, có thể bỏ nhục thân Bố Thí cho hữu tình. Từ xưa, Trung Quốc gọi Khất ThựcThác Bát, khi Thác Bát, phải lưu tâm đến uy nghi, chú ý đến đạo; nếu không có Đạo Tâm mà chỉ có hình thức thì chẳng khác gì những kẻ ăn xin tầm thường. Cứ theo luận Hiển dương Thánh Giáo, thì tỉ khưu khi đi Khất Thực có 5 chỗ không nên đến để tránh sự hiềm nghi. Đó là:
1. Nhà hát xướng: Nhà hát là chỗ vui chơi náo nhiệt, làm Tán Loạn tâm thiền định.
2. Nhà bán dâm: Mọi sinh hoạt ở đây đều không trong sạch, tiếng tăm không tốt, Nhân Duyên Sắc Dục là gốc của Sự Chướng đạo.
3. Nhà bán rượu: Rượu là Nguyên Nhân sinh ra lỗi lầm và Tội Ác.
4. Cung vua: Chỗ ở của quyền quí, chỗ nghiêm cấm mọi quan hệ, vì thế không nên đến.
5. Nhà Chiên Đà La: Nhà đồ tể, nơi đây tâm Sát Sinh rất mạnh, não hại Chúng Sinh, nếu người trông thấy thì tổn thương lòng từ bi, hư hoại căn lành, vì thế không nên đến. [X. kinh Trung a hàm Q. 4.; kinh Thập bát ngưu dác sa la lâm; Ngũ Phần Luật Q. 27.; Tứ phần Luật Hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 3 đoạn 2; Tứ phần Luật Hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 4; Thích Thị Yếu Lãm Q.thượng].