Khẩn Na La

《緊那羅》 jǐn nà luó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Kiônara. Pàli: Kinnara. Cũng gọi: Khẩn nại lạc, Khẩn noa la, Khẩn đảm lộ, Chân đà la. Dịch ý: Ca thần, Ca nhạc thần, Âm nhạc thần, Nghi thần, Nghi nhân, Nhân Phi Nhân. Vốn là vị thần trong thần thoại Ấn Độ, sau được Phật giáo thu dụng và xếp vào bộ thứ 7 trong 8 bộ chúng. Cứ theo Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí quyển 2, thì hình dáng vị thần này giống như người, nhưng trên đỉnh đầu có một cái sừng, khiến người thấy sinh nghi. Trong tiếng Phạm, chữ Kim có nghĩa là nghi vấn, nara nghĩa là người, vì thế Kiônasa được dịch là Nghi nhân, Nghi thần. Vị thần này có âm thanh hay và ca múa giỏi. Theo Hoa Nghiêm Kinh Sớ quyển 5, thì vị thần này là Nhạc thần chấp pháp của Thiên đế. Trong các kinh Đại Thừa, tên của vị thần này thường được nói đến trong số Thính Chúng nghe Phật nói pháp. Trong Mật giáo, vị thần này là Quyến Thuộc của Câu Tì La. Trong bức tranh Mạn Đồ La do ngài Thiện Vô Úy truyền thì vị thần được đặt ở lớp thứ 3 phía bắc. Còn trong Hiện Đồ Mạn Đồ La thì Ngài được đặt ở phía bắc Kim Cương Bộ ngoài; phía bắc chúng Ma hầu la già có 2 vị Khẩn Na La, thân mầu da người, một vị trên 2 bắp vế đặt cái trống nằm ngang, còn vị kia thì phía trước có để 2 cái trống đứng, cả 2 vị đều trong tư thế đang đánh trống. Ngoài ra, tùy theo các cơ loại, Bồ Tát Quan thế âm thường Thị Hiện 32 ứng thân để cứu độ Chúng Sinh, trong đó, ứng thân thứ 29 là Khẩn Na La. Nghĩa là nếu Khẩn Na La muốn trút bỏ được thân Khẩn Na La, thì Bồ Tát Quan thế âm liền ứng Hiện Thân Khẩn Na La ở trước để Thuyết Pháp cho nghe, khiến Thành Tựu nguyện vọng. [X. kinh Đại Thụ Khẩn Na La Vương sở vấn Q. 1.; luận Đại trí độ Q. 17.; Chú Duy Ma Cật Kinh Q. 1.; Đại Nhật Kinh Sớ Q. 6.; Tuệ lâm Âm Nghĩa Q. 11.].