Địa Ngục

《地獄》 dì yù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: naraka, niraya, Pāli: niraya: âm dịch là Nại Lạc Ca () Na Lạc Ca (), Nại Lạc (), Nê Lê Da (), Nê Lê (); ý dịch là Bất Lạc (), Khả Yếm (), Khổ Cụ (), Khổ Khí (), Vô Hữu (); là một trong Ngũ Thú (), Lục Thú (), Ngũ Đạo (), Lục Đạo (), Thất Hữu (), Thập Giới (); cho nên có tên gọi là Địa Ngục Đạo (), Địa Ngục Thú (), Địa Ngục Hữu (), Địa Ngục Giới (). Địa Ngục hay Âm Gian () được con người xem như là địa phương nơi Linh Hồn người chết sẽ trở về sau khi từ giã cõi đời này. Quan niệm về Địa Ngục phân bố Thế Giới rộng hay hẹp tùy theo quan niệm Tín Ngưỡng của mỗi tôn giác khác nhau. Theo Phật Giáo, Địa Ngục được chia thành như sau: (1) Tám Địa Ngục Lớn, còn gọi là Tám Địa Ngục Nóng (, Bát Nhiệt Địa Ngục), gồm: Đẳng Hoạt (Sanskrit: sañjīva, ), Hắc Thằng (Sanskrit: kālasūtra, ), Chúng Hợp (Sanskrit: saṅghāta, ), Khiếu Hoán (Sanskrit: raurava, , hay Hiệu Khiếu []), Địa Khiếu Hoán (Sanskrit: mahāraurava, , hay Đại Khiếu []), Tiêu Nhiệt (Sanskrit: tapana, , hay Viêm Nhiệt []), Đại Tiêu Nhiệt (Sanskrit: pratapana, ), A Tỳ (Sanskrit: avīci, , hay Vô Gián [], A Tỳ Chỉ [], Bát Vạn []). (2) Tám Địa Ngục Lạnh (, Bát Hàn Địa Ngục), gồm: Át Bộ Đà (Sanskrit: arbuda, ), Ni Lạt Bộ Đà (Sanskrit: nirarbuda, ), Át Chiết Tra (Sanskrit: aṭaṭa, , hay A Tra Tra []), Hoắc Hoắc Bà (Sanskrit: hahava, , hay A Ba Ba []), Hổ Hổ Bà (Sanskrit: huhuva, ), Miệt Bát La (Sanskrit: utpala, ), Bát Đặc Ma (Sanskrit: padma, ), Ma Ha Bát Đặc Ma (Sanskrit: mahāpadma, ). Ngoài ra, trong Tám Địa Ngục Lớn ấy, mỗi Địa Ngục đều có 16 Địa Ngục Quyến Thuộc (tức 16 Địa Ngục nhỏ), hợp cả Địa Ngục lớn và nhỏ lại, tổng cọng có 136 Địa Ngục. Quán Phật Tam Muội Hải Kinh () quyển 5 có nêu rõ 18 loại Địa Ngục nhỏ như 18 Địa Ngục Lạnh (, Thập Bát Hàn Địa Ngục), 18 Địa Ngục Tối Tăm (, Thập Bát Hắc Ám Địa Ngục), 18 Địa Ngục Nóng Ít (, Thập Bát Tiểu Nhiệt Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Đao (, Thập Bát Đao Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Kiếm (, Thập Bát Kiếm Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Xe Lửa (, Thập Bát Hỏa Xa Địa Ngục), 18 Địa Ngục Phân Sôi (, Thập Bát Phí Thỉ Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vạc Nước Sôi (, Thập Bát Hoạch Thang Địa Ngục), 18 Địa Ngục Sông Tro (, Thập Bát Hôi Hà Địa Ngục), 18 Địa Ngục Đá Nhọn (, Thập Bát Tiêm Thạch Địa Ngục), 18 Địa Ngục Hang Thép (, Thập Bát Thiết Quật Địa Ngục), 18 Địa Ngục Uống Nước Đồng (, Thập Bát Ẩm Đồng Địa Ngục), v.v. Có 5 ý nghĩa về từ Vô Gián: (1) Thú Quả Vô Gián (, chiêu thọ Nghiệp Quả không qua đời khác, tức Báo Ứng ngay đời này); (2) Thọ Khổ Vô Gián (, chịu Khổ Không gián đoạn); (3) Thời Vô Gián (, trong một kiếp, chịu khổ báo không gián đoạn); (4) Mạng Vô Gián (, thọ mạng chịu khổ liên tục, không gián đoạn); (5) Hình Vô Gián (, thân hình của Chúng Sanh và sự lớn nhỏ của Địa Ngục tương đồng mà không có kẻ hở). Do Chúng Sanh tạo các loại Nghiệp Nhân bất đồng, mỗi loại Địa Ngục chiêu cảm Quả Báo bất đồng. Về vị trí của Địa Ngục, có 3 thuyết khác nhau: (1) Theo Trường A Hàm Kinh () quyển 19, Đại Lâu Thán Kinh () quyển 2, Phẩm Nê Lê (), Địa Ngục nằm chung quanh biển lớn, trong khoảng giữa của Đại Kim Cang Sơn và Đại Kim Cang Sơn thứ hai. (2) Theo Lập Thế A Tỳ Đàm Luận () quyển 1, Địa Động Phẩm (), Địa Ngục nằm ngoài Thiết Vi Sơn (Sanskrit: Cakravāḍa-parvata, Pāli: Cakkavāḷa-pabbata ), chỗ hẹp nhất là 80.000 Do Tuần; chỗ rộng nhất là 160.000 Do Tuần. (3) Theo Đại Tỳ Bà Sa Luận () quyển 172, Câu Xá Luận () quyển 11, v.v., Vô Gián Địa Ngục nằm cách khoảng 20.000 Do Tuần dưới Nam Thiệm Bộ Châu (Sanskrit: Jampudīpa, ); các Địa Ngục khác nằm chồng chất lên nhau theo thứ tự, hay nằm một bên. Hơn nữa, còn có Cô Địa Ngục (), Biên Địa Ngục (), không lệ thuộc vào các Địa Ngục lớn nhỏ bên trên, hoặc nằm trong Tứ Châu (Sanskrit: catvāro dvīpāḥ, Pāli: cattāro dīpā ), bên sông núi, hay dưới lòng đất, trên không, v.v. Trong Di Sơn Nhiên Thiền Sư Phát Nguyện Văn () của Truy Môn Cảnh Huấn (, Taishō No. 2023) quyển 6 có đoạn rằng: “Nê Lê khổ thú, Ngạ Quỷ Đạo trung; hoặc phóng đại Quang Minh, hoặc kiến chư Thần Biến, kỳ Hữu Kiến Ngã Tướng, Nãi Chí văn ngã danh, giai phát Bồ Đề Tâm, vĩnh xuất Luân Hồi khổ (, Địa Ngục nẻo khổ, Quỷ Đói đường trong; hoặc phóng ánh Quang Minh, hoặc thấy các Thần Biến, nếu có thấy tướng ta, cho đến nghe tên ta, đều phát Bồ Đề Tâm, mãi ra Luân Hồi khổ).” Hay trong Thiện Huệ Đại Sĩ Lục (, CBETA No. 1335) quyển 3, phần Đệ Tứ Chương Minh Tướng Hư Dung () lại có câu: “Như Lai Pháp ThânBiệt Xứ, phổ thông Tam Giới khổ Nê Lê, Tam Giới Nê Lê bổn phi hữu, vi diệu thùy phục đắc tri hề (, Như Lai Pháp Thân đâu chốn khác, thông cùng Ba Cõi khổ Nê Lê, Ba Cõi Nê Lê vốn không có, vi diệu ai lại biết nẻo về).” Hoặc như trong Vĩnh Bình Điển Tòa Giáo Huấn () có đoạn: “Ngã nhược sanh Địa Ngục Ngạ Quỷ Súc Sanh Tu La đẳng chi thú, hựu sanh tự dư chi Bát Nạn thú, tuy hữu cầu tăng lực chi phú thân, thủ tự bất khả tác cúng dường Tam Bảo chi Tịnh Thực (, ta nếu sanh vào các đường Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Tu La, hay sanh vào các đường Tám Nạn khác, tuy có cầu năng lực chư tăng che chở thân, nhưng tay không thể tự mình lấy thức ăn thanh tịnh cúng dường Tam Bảo).”