Đàm Ma Lưu Chi
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Dharma-ruci. Dịch ý: Pháp Lạc, Pháp hi.
I. Đàm Ma Lưu Chi. Vị tăng người Tây vực, thông hiểu tạng Luật, đến Trường an, Trung Quốc vào năm Hoằng thủy thứ 7 (405) đời Hậu Tần. Trước đó, có Sa Môn Phất Nhã Đa La người nước Kế tân đã tụng luật Thập tụng được hơn phân nửa, ngài Đàm Ma Lưu Chi, theo lời thỉnh của vua Diêu Hưng, tụng tiếp hết phần còn lại và ngài Cưu Ma La Thập dịch ra chữ Hán gồm 58 quyển. Đây là lần đầu tiên Quảng Luật được dịch tại Trung Quốc(trước đó mới chỉ có Giới bản được Phiên Dịch–ND). Sau đó, ngài Đàm Ma Lưu Chi đi du hóa các nơi hoằng truyền giới luật. Có chỗ nói sư tịch ở nước Lương. [X. Lương Cao Tăng Truyện Q. 2., Q. 6. truyện Tuệ viễn; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 12.; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 3., Q. 9.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 6.].
II. Đàm Ma Lưu Chi. Vị Sa Môn người Nam Ấn Độ, sớm có chí hoằng đạo. Khoảng năm Cảnh minh đời Bắc Ngụy sư đến Lạc Dương, Trung Quốc. Năm Cảnh minh thứ 2 (501), sư Dịch Kinh Như Lai Trang Nghiêm trí tuệ Quang Minh nhập Nhất Thiết Phật cảnh giới 2 quyển ở chùa Bạch Mã. Khoảng năm Chính thủy (?), sư Dịch Kinh Tín lực nhập ấn Pháp Môn 5 quyển, kinh Kim sắc vương 1 quyển. Những sự tích khác cũng như năm sinh năm mất của sư không được rõ. Ngoài ra, truyện Bồ Đề Lưu Chi trong Tục Cao Tăng Truyện quyển 1 nói, trong năm Thiên hòa đời Hậu Chu có vị Sa Môn nước Ma lặc tên Đạt Ma Lưu Chi vâng sắc chỉ của vua dịch Bà La Môn thiên văn 20 quyển. Vì niên đại của vị Sa Môn này hơi muộn nên e không phải là ngài Đàm Ma Lưu Chi. [X. Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 3.; Đại Đường Nội Điển Lục Q. 4.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 6.].
I. Đàm Ma Lưu Chi. Vị tăng người Tây vực, thông hiểu tạng Luật, đến Trường an, Trung Quốc vào năm Hoằng thủy thứ 7 (405) đời Hậu Tần. Trước đó, có Sa Môn Phất Nhã Đa La người nước Kế tân đã tụng luật Thập tụng được hơn phân nửa, ngài Đàm Ma Lưu Chi, theo lời thỉnh của vua Diêu Hưng, tụng tiếp hết phần còn lại và ngài Cưu Ma La Thập dịch ra chữ Hán gồm 58 quyển. Đây là lần đầu tiên Quảng Luật được dịch tại Trung Quốc(trước đó mới chỉ có Giới bản được Phiên Dịch–ND). Sau đó, ngài Đàm Ma Lưu Chi đi du hóa các nơi hoằng truyền giới luật. Có chỗ nói sư tịch ở nước Lương. [X. Lương Cao Tăng Truyện Q. 2., Q. 6. truyện Tuệ viễn; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 12.; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 3., Q. 9.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 6.].
II. Đàm Ma Lưu Chi. Vị Sa Môn người Nam Ấn Độ, sớm có chí hoằng đạo. Khoảng năm Cảnh minh đời Bắc Ngụy sư đến Lạc Dương, Trung Quốc. Năm Cảnh minh thứ 2 (501), sư Dịch Kinh Như Lai Trang Nghiêm trí tuệ Quang Minh nhập Nhất Thiết Phật cảnh giới 2 quyển ở chùa Bạch Mã. Khoảng năm Chính thủy (?), sư Dịch Kinh Tín lực nhập ấn Pháp Môn 5 quyển, kinh Kim sắc vương 1 quyển. Những sự tích khác cũng như năm sinh năm mất của sư không được rõ. Ngoài ra, truyện Bồ Đề Lưu Chi trong Tục Cao Tăng Truyện quyển 1 nói, trong năm Thiên hòa đời Hậu Chu có vị Sa Môn nước Ma lặc tên Đạt Ma Lưu Chi vâng sắc chỉ của vua dịch Bà La Môn thiên văn 20 quyển. Vì niên đại của vị Sa Môn này hơi muộn nên e không phải là ngài Đàm Ma Lưu Chi. [X. Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 3.; Đại Đường Nội Điển Lục Q. 4.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 6.].