Đại Đức

《大德》 dà dé

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có 4 nghĩa chính: (1) Công Đức lớn, đại ân. Như trong Hệ Từ () của Dịch Kinh () có câu: “Thiên địa chi Đại Đức viết sinh (, đức lớn của trời đất là sinh).” Hay trong Thi Kinh, phần Tiểu Nhã (), Cốc Phong () có câu: “Vong ngã Đại Đức, tư ngã tiểu oán (, quên đức lớn của ta, nhớ oán hận nhỏ quả ta).” (2) Phẩm đức cao thượng. Như trong chương Lập Chính () của Quản Tử () có câu: “Quân chi sở thận giả tứ, nhất viết Đại Đức bất chí nhân, bất khả dĩ thọ quốc bính (, có bốn điều người quân tử phải thận trọng, một là phẩm đức cao thượng không bằng lòng nhân, không thể lấy vậy mà ban cho quyền lực quốc gia được).” Quan Đại Thần Duẫn Tri Chương (, 669-718) nhà Đường chú thích rằng: “Đức tuy đại nhi nhân bất chí, hoặc bao tàng họa tâm, cố bất khả thọ quốc bính (, đức tuy lớn mà lòng nhân vẫn không thấu đáo, hoặc có thể ẩn tàng tâm gây hiểm họa, nên không thể ban cho quyền lực quốc gia được).” (3) Chỉ cho người có đức hạnh cao thượng. Như trong Lễ Ký (), chương Trung Dung () có câu: “Cố Đại Đức tất đắc kỳ vị (, cho nên người có đức hạnh cao thượng tất đạt được vị trí ấy).” Hay trong chương Ly Lâu () của Mạnh Tử () có đoạn: “Thiên hạ hữu đạo, tiểu đức dịch Đại Đức, tiểu hiền dịch đại hiền (, thiên hạ có đạo rằng người đức ít thì phục dịch người đức lớn, người hiền nhỏ thì phục vụ người hiền lớn).” (4) Đại Đức(s, Pāli: bhadanta ), âm dịch là Bà Đàn Đà (). Tại Ấn Độ, đây là tiếng kính xưng đối với Phật, Bồ Tát hay Cao Tăng; hoặc trong hàng ngũ chư vị Tỳ Kheo, bậc Trưởng Lão cũng được gọi là Đại Đức. Như trong Phật Thuyết Văn Thù Sư Lợi Tuần Hành Kinh (, Taishō Vol. 14, No. 470) quyển 57 có đoạn: “Nhĩ thời Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử, ký kiến Trưởng Lão Xá Lợi Phất dĩ, nhi ngữ chi ngôn: 'Đại Đức Xá Lợi Phất ! Nhữ nhập Thiền da ?' (, lúc bấy giờ Đồng Tử Văn Thù Sư Lợi, đã thấy Trưởng Lão Xá Lợi Phất rồi, mà nói lời rằng: 'Đại Đức Xá Lợi Phất ! Có phải người nhập vào Thiền Định Không ?').” Trong các bộ Luật, khi đối trước đại chúng Hiện Tiền, chỉ cho chúng Tỳ Kheo, người ta thường dùng từ “Đại Đức Tăng ()”; với chúng Tỳ Kheo Ni là “Đại Tỷ Tăng ()”. Tỷ dụ như trong Luật Uyển Sự Quy (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1113) có đoạn: “Đại Đức Nhất Tâm niệm ngã [mỗ giáp] kim thỉnh Đại Đức vi lạc phát Hòa Thượng, nguyện Đại Đức vi ngã lạc phát Hòa Thượng, ngã y Đại Đức cố đắc Thế Phát Xuất Gia, từ mẫn cố [Tam Thỉnh] ([][], Đại Đức một lòng nghĩ nhớ, con […] nay cung thỉnh Đại Đức làm Hòa Thượng xuống tóc, ngưỡng mong Đại Đức làm Hòa Thượng xuống tóc của con, vì con nương Đại Đức nên được xuống tóc Xuất Gia, xin thương xót cho [ba lần thưa như vậy]).” Tại Trung Quốc cũng như Việt Nam, từ Đại Đức không dùng để tôn xưng chư Phật, Bồ Tát; mà chỉ dùng cho chư vị Cao Tăng mà thôi. Tuy nhiên, dưới thời Tùy Đường, những người tham gia Dịch Kinh đều được gọi là Đại Đức. Như trong Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 6 cho biết rằng vào tháng 6 năm Trinh Quán () thứ 19 (645), khi Huyền Trang (, 602-664) Dịch Kinh tại Hoằng Phước (), có 12 vị Chứng Nghĩa Đại Đức (), 9 vị Chuyết Văn Đại Đức (), 1 vị Tự Học Đại Đức (), 1 vị Chứng Phạn Ngữ Phạn Văn Đại Đức (), v.v. Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 16 cũng có nêu lên một số danh xưng khác như Lâm Đàn Đại Đức (), Bách Tòa Đại Đức (), Tam Học Đại Đức (), Giảng Luận Đại Đức (), Nghĩa Học Đại Đức (), Phiên Kinh Đại Đức (), Dịch Ngữ Đại Đức (), v.v. Ngoài ra, người thống lãnh Tăng Ni cũng gọi là Đại Đức. Như trong Tục Cao Tăng Truyện (, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 11, Đường Kinh Sư Diên Hưng Tự Thích Cát Tạng Truyện () có đề cập sự việc vào năm đầu (618) niên hiệu Võ Đức () nhà Đường, vì số lượng Tăng Chúng quá đông, chức Thập Đại Đức () được thiết trí để quản lý Tăng Chúng. Ngoài những ý nghĩa nêu trên, hiện nay tại Việt Nam, danh xưng Đại Đức được dùng cho những vị mới thọ giới cũng như có Hạ Lạp thấp, sau Thượng Tọa và Hòa Thượng.