Cổ

《鼓》

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: trống; tên loại nhạc khí, được chế tạo bằng vàng, ngọc, gỗ, đá, v.v. Đối với Phật Giáo, trống cũng là một trong những Pháp Khí quan trọng trong các tự viện. Vào thời cổ đại của Trung Quốc, trống được dùng như là vật môi giới thông với chư vị thần linh, là vật tượng trưng giao lưu với Thế Giới tự nhiên, có sắc thái thần bí, được lịch sử rất xem trọng. Trong các thư tịch cổ có liệt kê hơn 300 loại trống, tùy theo hình chế mà có phân chia thành 7 loại khác nhau như: Đại Cổ (), Kiến Cổ (), Cổ (), Huyền Cổ (, trống treo), Thủ Cổ (, trống cầm tay), Trượng Cổ (, trống có dây thắt ở hai đầu), Đồng Thạch Cổ (, trống bằng đồng, đá). (1) Đại Cổ (Trống Lớn) là trống có ngoại hình lớn nhất, loại đại biểu nhất cho trống cổ đại Trung Quốc, được đặt trên giá, dùng đùi lớn để đánh. Trong Lã Thị Xuân Thu (), Thiên Xỉ Lạc () có đoạn rằng: “Hạ Kiệt, Ân Trụ tác vi Xỉ Nhạc, Đại Cổ, Chung, Khánh, Quản, Tiêu lục âm, dĩ cự vi mỹ, dĩ chúng vi quan (, vua Hạ Kiệt, vua Ân Trụ làm thành sáu loại âm thanh là Xỉ Nhạc, Trống Lớn, Chuông, Khánh, Sáo, Tiêu; lấy móc sắt treo lên cho đẹp, để mọi người chiêm ngưỡng).” Như vậy, trống đã có mặt hơn 17 thế kỷ trước công nguyên, thường được sử dụng trong các nhạc đội của cung đình. Loại Trống Lớn thời Cổ Đại có Công Năng rất rộng lớn, được dung để tế tự, cúng tế, nghi tiết trọng đại, quân sự, báo thì giờ; hoặc dùng cho việc khánh chúc hôn lễ, thông báo tang lễ, v.v. Khi trống được dùng trong các buổi yến tiệc của cung đình thì có khí Thế Hùng tráng. Như trong của Cựu Đường Thư (), phần Âm Nhạc (), cho biết rằng: “Huyền Tông tại vị đa niên, thiện âm nhạc; nhược yến thiết phủ hội, tức ngự Cần Chính Lâu, … thái thường Đại Cổ, nhạc công tề kích, thanh chấn thành khuyết (、…, Huyền Tông tại vị nhiều năm, có tài về âm nhạc; nếu có thiết bày yến tiệc, liền đến ngự tại Lầu Cần Chính, trống lớn khác thường, nhạc công cùng đánh, âm thanh vang chấn động khắp thành quách).” Dưới thời nhà Chu (1046-256 ttl.), trống lớn được dùng làm hiệu lệnh chỉ huy chiến tranh. (2) Kiến Cổ, về ngoại hình thì tượng tợ với Trống Lớn, cũng dùng 2 đùi trống để đánh; chỉ có khác là giá treo bọc quanh trống. Sau này trống cũng được lưu nhập vào trong Phật Giáo, sử dụng để tụng kinh, Lễ Bái, hành Đại Lễ, v.v. Như vào những dịp lễ chính trong năm như Tết, Rằm Tháng Giêng, Lễ Phật Đản, Vu Lan, v.v.; hay vào những dịp ngày Rằm, 30 hàng tháng, các ngày vía của chư Phật, Bồ Tát; hoặc nhân dịp lễ húy kỵ chư vị Cao Tăng, hay đón rước các Cao Tăng, v.v. Từ “trống” được tìm thấy khá nhiều trong các Kinh Điển Phật Giáo, như Khổ Ấm Kinh () của Trung A Hàm Kinh (, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 25, Mộng Kiến Kim Cổ Sám Hối Phẩm () của Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (, Taishō Vol. 16, No. 665) quyển 2, Phẩm Đề Bà Đạt Đa () của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 4, Đại Bát Niết Bàn Kinh (, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển Thượng, v.v. Như trong Phẩm Tựa của Kinh Pháp Hoa có đoạn: “Kim Phật Thế Tôn dục thuyết đại pháp, vũ đại Pháp Vũ, xuy Đại Pháp Loa, kích Đại Pháp Cổ diễn đại pháp nghĩa (, nay đức Phật Thế Tôn muốn Thuyết Pháp lớn, mưa trận mưa pháp lớn, thổi ốc pháp lớn, đánh trống pháp lớn, diễn nghĩa pháp lớn).” Trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (, Taishō Vol. 12, No. 360) quyển Thượng cũng có câu: “Khấu Pháp Cổ, xuy Pháp Loa, chấp Pháp Kiếm, kiến Pháp Tràng, chấn Pháp Lôi, Diệu Pháp điện, chú Pháp Vũ, diễn Pháp Thí (, gõ trống pháp, thổi ốc pháp, cầm kiếm pháp, chấn động sấm pháp, tỏa sáng điện pháp, mưa trận mưa pháp, diễn bày Bố Thí pháp).” Hay như Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh (, Taishō Vol. 13, No. 397) quyển 56 có dạy rằng: “Pháp Tràng đương tồi chiết, Pháp Cổ thanh diệc tuyệt (, cờ Pháp Bị gãy đứt, trống pháp tiếng cũng dứt).” Trong Mộng Kiến Kim Cổ Sám Hối Phẩm của Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh quyển 2, có kể câu chuyện Diệu Tràng Bồ Tát (), sau khi nghe pháp xong, tâm sanh hoan hỷ, trở về chỗ của mình, đến đêm mộng thấy cái trống vàng lớn, ánh sáng rực rỡ, như vòng mặt trời. Trong ánh sáng ấy, Bồ Tát thấy có mười phương vô lượng các đức Phật, ngồi trên tòa Lưu Ly dưới cây báu; Thuyết Pháp cho vô lượng trăm ngàn chúng đang vây quanh chư Phật. Bồ Tát lại thấy có một vị Bà La Môn lấy dùi trống đánh chiếc trống bằng vàng, phát ra âm thanh lớn; trong âm thanh ấy Diễn Thuyết các câu kệ của pháp Sám Hối vi diệu. Nghe xong, Diệu Tràng Bồ Tát nhớ kỹ, đến sáng mai mang các vật phẩm cúng dường, đến Linh Thứu Sơn, nơi đức Phật đang an trú, thuật lại câu chuyện trên, được đức Phật Tán thán, khen ngợi là người có Nhân Duyên lớn mới nghe được tiếng trống đó. Pháp Cổ là Trống Pháp, Thí Dụ khi đánh trống để khuyên răn, cảnh tỉnh binh lính, sách tấn mọi người; cho nên, tiếng trống cũng ví dụ cho sự Thuyết Pháp của chư Phật giúp cảnh tỉnh, khuyên răn mọi người trở về với con đường thiện. Xưa kia, trống được chế tạo bằng kim thuộc, ngọc, gỗ, đá, v.v. Cho đến hiện tại, phần lớn trống được làm bằng gỗ hay các loại da trâu, ngựa, heo, v.v.; cho nên có các tên gọi khác nhau tùy theo chất liệu như trống kim loại, trống đá, trống da. Về cách dùng trống, trong Thích Thị Yếu Lãm (, Taishō Vol. 54, No. 2127) có đoạn: “Ngũ Phần Luật vân: 'Chư Tỳ Kheo Bố Tát, chúng bất thời tập, Phật ngôn, hoặc đả kiền chùy, hoặc đả cổ xuy bối' (, Ngũ Phần Luật dạy rằng: 'Khi các Tỳ Kheo Bố Tát, hay chúng tăng tập trung bất thường, đức Phật dạy hoặc đánh kiền chùy [chuông], hoặc đánh trống, thổi ốc').” Khi ăn cũng đánh trống báo hiệu tập trung, như Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (, Taishō Vol. 19, No. 945) có dạy rằng: “Thực biện kích cổ, chúng tập chàng chung (, khi ăn cơm thì đánh trống, khi tập trung đại chúng thì đánh chuông).” Hay khi Thuyết Pháp cũng phải đánh trống thông báo, như trong Ma Ha Tăng Kỳ Luật (, Taishō Vol. 22, No. 1425) quyển 1 có đoạn rằng: “Chư Thiên hữu Tam Thời cổ, Chư Thiên A Tu La cọng chiến thời đả đệ nhất cổ, Câu Tỳ La viên chúng hoa khai phu thời đả đệ nhị cổ, tập Thiện Pháp Giảng Đường thính Thiện Pháp thời đả đệ Tam Cổ (, Chư Thiên có ba loại trống, khi Chư ThiênA Tu La cùng nhau giao chiến thì đánh trống thứ nhất, khi các hoa trong vườn Câu Tỳ La bắt đầu nở thì đánh cái thứ hai, khi tập trung tại Thiện Pháp Giảng Đường để nghe Thiện Pháp thì đánh cái thứ ba).” Như vậy, khi đức Phật còn tại thế, trống được dùng để báo hiệu tập trung đại chúng hành lễ Bố Tát (tụng giới), ăn cơm, nghe pháp, v.v. Về sau, trống được dùng trong Thiền Môn với ý nghĩa làm hiệu lịnh báo thức đại chúng thức khuya, dậy sớm; đặc biệt được dùng trong các nghi lễ, phối hợp xướng niệm, phổ thành khúc điệu để cúng dường và Trang Nghiêm Đạo Tràng, giúp cho đại chúng Phát Khởi tâm kính thành hơn. Tùy theo mục đích sử dụng, hiện tại trong các tự viện Phật Giáo có một số tên gọi khác nhau về trống như: (1) Pháp Cổ (), Trống Pháp, Thí Dụ khi đánh trống để khuyên răn, cảnh tỉnh binh lính, sách tấn mọi người; cho nên, tiếng trống cũng ví dụ cho sự Thuyết Pháp của chư Phật giúp cảnh tỉnh, khuyên răn mọi người trở về với con đường thiện. (2) Đăng Tòa Cổ (), dùng để cung thỉnh pháp sư thăng tòa Thuyết Pháp. (3) Trà Cổ (), loại trống được thiết trí ở phía Tây Bắc Pháp Đường của các Thiền Viện, được dùng để tập trung Tăng Chúng dùng trà nóng. Như trong bài thơ Tây Hồ Xuân Nhật (西) của Lâm Bô (, 967-1028) nhà Tống có câu: “Xuân yên tự viện cảo Trà Cổ, Tịch Chiếu lâu đài trác tửu kỳ (, khói xuân tự viện gióng Trà Cổ, đêm chiếu lâu đài nhắp rượu say).” (4) Trai Cổ (), dùng tập trung Tăng Chúng thọ trai. (5) Vấn Tấn Cổ (), trống đánh để thăm hỏi, học đạo, Tham Thiền, v.v. (6) Phóng Tham Cổ (), loại đánh báo hiệu đại chúng dùng cháo buổi chiều. Nguyên Lai từ “Phóng Tham ()” nghĩa là ăn cháo hay bánh bao buổi chiều. Đức Phật chế chư tăng Xuất Gia chỉ được ăn mỗi ngày một bữa cơm, quá giờ ngọ (sau 1 giờ chiều) thì không được ăn. Trước thời nhà Đường, chư tăng Trung Quốc tuân thủ nghiêm minh nguyên tắc này; về sau trải qua diễn biến của thời gian, Tăng Chúng phần lớn sinh hoạt theo hình thức tự canh tác tự nuôi sống, lao động thể lực rất lớn, dần dần nguyên tắc này được thay đổi để tồn tại và phù hợp với môi trường sống. Các tự viện bắt đầu quy định cho ăn chiều (vãn xan []), được gọi là Dược Thực (, món ăn như là thuốc để cứu chữa căn bệnh khô gầy), hay Dược Thạch (), có nghĩa là ăn cháo nhẹ; và có tên gọi khác là Vãn Chúc (, cháo chiều). (7) Hôn Cổ (): trống đánh vào buổi chiều. (8) Hiểu Cổ (): dùng vào buổi sáng sớm. (9) Canh Cổ (): trống đánh vào các canh buổi khuya. (10) Dục Cổ (): dùng báo hiệu giờ tắm của Tăng Chúng. (11) Phổ Thỉnh Cổ (): dùng để cung thỉnh toàn thể đại chúng cùng tham gia lao tác việc chùa.(12) Hỏa Cổ (): dùng báo hiệu khi có hỏa hoạn. Vào các buổi lễ lớn, các tự viện thường thỉnh Chuông Trống Bát Nhã theo bài kệ: “Bát Nhã hội, Bát Nhã hội, Bát Nhã hội, thỉnh Phật Thượng Đường, đại chúng đồng văn, Bát Nhã âm, Phổ Nguyện Pháp Giới, đẳng hữu tình, Nhập Pháp Giới, Ba La Mật môn (, Bát Nhã hội, Bát Nhã hội, Bát Nhã hội, thỉnh Phật Thượng Đường, đại chúng cùng nghe, Bát Nhã âm, nguyện khắp Pháp Giới, Chúng Hữu tình, Nhập Pháp Giới, cửa Ba La Mật).” Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc (), nguyên tác của Ðặng Trần Côn (, 1715?-1745), do Ðoàn Thị Ðiểm (, 1705-1748) dịch, có câu: “Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt, khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.” Tại Long Tế Tự () ở Cát Thủy (), Giang Tây (西), Trung Quốc, còn lưu lại hai câu thơ tương truyền của Thi sĩ Tô Đông Pha (, 1036-1101) nhà Tống: “Thiên Thượng lâu đài sơn thượng tự, vân biên chung Cổ Nguyệt biên tăng (, trên trời lâu đài chùa trên núi, bên mây chuông trống tăng bên trăng).”