Tuyết Sơn
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s, Pāli: Himālaya Himavat, Himavān, Tạng Hán: Gaṅs-can: còn gọi là Tuyết Lãnh (雪嶺) Đông Sơn Vương (冬山王), là rặng núi nằm phía tây bắc Ấn Độ. Xưa nay, người ta ám chỉ Tuyết Sơn không thống nhất với nhau, có khi nó là rặng Hy Mã Lạp Sơn, hoặc là rặng núi phía tây nam Thông Lãnh (葱嶺). Các quốc gia giáp giới khu vực này được lưu truyền Phật Giáo dưới thời đại của A Dục Vương (Sanskrit: Aśoka, Pāli: Asoka 阿育王). Trong Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙) quyển 2 có ghi lại rằng Đại Đức Mạt Thị Ma (Pāli: Majjhima, 末示摩), v.v., đã từng đến vùng ven Tuyết Sơn để tuyên thuyết Sơ Chuyển Pháp Luân Kinh (初轉法輪經), làm cho người Đắc Đạo lên đến 8 ức, Xuất Gia cho 5.000 người. Vào năm thứ 15 (641) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), khi Công Chúa Văn Thành (文成) vào Tây Tạng, đã từng đi qua rặng núi này. Theo Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) quyển 14, Phẩm Thánh Hạnh (聖行品), khi còn đang tu hạnh Bồ Tát trong núi Tuyết Sơn, đức Phật được gọi là Tuyết Sơn Đại Sĩ (雪山大士), Tuyết Sơn Đồng Tử (雪山童子), Tuyết Sơn Bà La Môn (雪山婆羅門), hay gọi tắt là Tuyết Đồng (雪童). Trong bài Tống Huệ Tắc Pháp Sư Quy Thượng Đô Nhân Trình Quảng Tuyên Thượng Nhân Tinh Dẫn (送慧則法師歸上都因呈廣宣上人並引) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Tuyết Sơn Đồng Tử ứng tiền thế, Kim Túc Như Lai thị bổn sư (雪山童子應前世、金粟如來是本師, Tuyết Sơn Đồng Tử ứng đời trước, Kim Túc Như Lai là bổn sư).” Hay như trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 12 có câu: “Nghiệp Quả điêu linh, tội hoa vẫn tạ, tiện đăng hải ngạn lễ Quan Âm Bồ Tát chi dung, trường hướng Tuyết Sơn thị Ma Da Phu Nhân chi trắc (業果凋零、罪花殞謝、便登海岸禮觀音菩薩之容、長向雪山侍摩耶夫人之側, Nghiệp Quả điêu linh, tội hoa tạ hết, bèn lên bờ biển lễ Quan Âm Bồ Tát hình dung, mãi hướng Tuyết Sơn hầu Ma Da Phu Nhân bên cạnh).”