Thiêu Hương
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm,Pàli:Dhùpana. Cũng gọi Niệm hương, Niệp hương, Phần Hương, Chú hương. Đốt hương. Tức là đốt các loại hương trước tượng chư Phật, Bồ Tát, Tổ Sư. Ban đầu, ở Ấn Độ, vì khí hậu rất nóng bức nên dân chúng đều thoa hương để trừ khử mùi hôi trên Thân Thể. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 30 thì lúc trời lạnh người ta thường đốt hương, còn thoa hương thì làm cả lúc trời nóng và trời lạnh. Về sau, Thiêu Hương được dùng trong các việc rước mời và cúng dường Phật, Bồ Tát. Trong các kinh phần nhiều có ghi chép việc Thiêu Hương cúng dường. Theo kinh Du Hành trong Trường a hàm quyển 2 thì vì Như Lai mà xây cất nhà lớn sửa sang chỗ ở, đồng thời lau rửa, quét dọn và Thiêu Hương cúng dường. Theo phẩm Pháp sư Công Đức trong kinh Pháp hoa quyển 4, nếu người Thụ Trì, đọc tụng, hoặc giảng nói, viết chép kinh Pháphoa thì nên nhận các thứ cúng dường như hoa, hương, Anh Lạc, hương bột, hương hoa, hương đốt, phan lọng, cờ phướn, y phục, kĩ nhạc (10 thứ cúng dường)... Theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ Hành Giả nên treo phan, đốt đèn, rải hoa,Thiêu Hương... Hồi Hướng các thứ cúng dường này để Nguyện Sinh về Tịnh Độ Cực Lạc. Còn theo phẩm Phú na kì duyên trong kinh Hiền ngu quyển 6 (bản Tống, Nguyên, Minh) thì ông Phú na kì và người anh bưng lô hương cùng bước lên lầu cao, trông xa hướng về Tinh Xá Kì hoàn, Thiêu Hương cúng dường, nguyện cầu qui mệnh đức Phật và Thánh Tăng, kính xin đức Phật như mặt trời sáng chiếu soi đến đất nước của ông để khai ngộ cho Chúng Sinh ngu muội. Khói hương liền theo ý 2 người, nương Hư Không bay đến trên đỉnh đầu đức Thế Tôn rồi kết tụ lại hợp thành 1 chiếc lọng khói. Theo kinh Đại nhật quyển 8 thì Thiêu Hương có ý nghĩa là đi đến khắp Pháp Giới, như khi hoa cây Thụ Vương trên cõi trời nở thì mùi thơm tự nhiên bay khắp theo chiều gió xuôi cũng như ngược. Trong Mật giáo, hương được dùng cho 3 bộ Thai Tạng Giới có khác nhau. Theo phẩm Phân Biệt Thiêu Hương trong kinh Tô Tất Địa yết ra quyển thượng thì Phật bộ đốt hương trầm thủy, Kim Cương Bộ đốt hương Bạch Đàn và Liên Hoa Bộ thì đốt hương uất kim. Hoặc trộnlẫn 3 thứ hương trên để dùng chung cho 3 bộ; hoặc chỉ dùng 1 thứ chung cho cả 3 bộ. Trong các loại hương thì loại được chế bằng nhựa của cây Thất lị phệ sắt tra ca, được dùng chung cho 3 bộ, cũng có thể dùng loại hương này cho Chư Thiên; còn hương an tức thì dùng cho Dược Xoa, hương huân lục dùng cho Chư Thiên và Thiên Nữ, hương chiết ra sa dùng cho Địa Cư Thiên, hương sa lạc sí dùng cho nữ Sứ Giả, hương càn đà ra sa dùng cho nam Sứ Giả... Bảy thứ hương như long não, càn đà ra sa, sa chiết ra sa, huân lục, an tức, sa lạc sí và thất lị phệ sắt tra ca được gọi chung là Thất giao hương(7 thứ hương chế bằng nhựa cây), là hương tốt hơn hết, trộn lẫn với nhau để đốt thì có thể dùng chung cho 9 loại (ba pháp: Tức tai, Tăng Ích, Hàng phục của 3 bộ). Còn theo phẩm Thỉnh cúng dường trong kinh Nhuy hi da quyển trung thì trong pháp cúng dường phổ thông, phải dùng hương Bạch Đàn trộn lẫn với hương trầm thủy để cúng dường Phật bộ, dùng hương chế bằng nhựa của các thứ cây như cây Thi lợi tì sắt đa ca(Thất lị phệ sắt tra ca)... để cúng dường Liên Hoa Bộ, dùng hương hắc trầm thủy và an tức để cúng dường Kim Cương Bộ. Còn dùng các loại hương như: Bạch Đàn, trầm thủy, long não, tô hợp, huân lục, thi lợi tì sắt đa ca, tát xà la sa, an tức, sa la chỉ, ô Thi La, ma lặc ca, hương phụ tử, cam tùng, Át Già đá lí, bách mộc, thiên mộc, bát địa dạ... trộn chung với đường cát, gọi là Phổ thông hòa hợp, có thể tùy ý sử dụng cúng dường chư tôn.Cứ theo phẩm Phân Biệt Thiêu Hương trong kinh Tô Tất Địa yết ra quyển thượng, thì vì các loại pháp tu có khác nhau, cho nên những thứ hương được đốt cũng bất đồng, như tu pháp Phiến để ca (pháp Tức tai)thì đốt hương viên (hương liệu được nghiền ra bột rồi vo lại thành viên), tu pháp A tì gia rô ca(pháp Hàng phục), phải đốt hương bột, tu pháp Bổ sắt trưng ca (pháp Tăng Ích) cũng đốt hương viên. Cứ theo Phật đính Tôn Thắng Đà La Ni Niệm Tụng Nghi quĩ của ngài Tam Tạng Bất Không thì tu pháp Tức tai phải đốt hương trầm thủy, tu pháp Tăng Ích phải đốt hương Bạch Đàn, tu pháp Hàng phục phải đốt hương an tức và tu pháp Kính ái thì phải đốt hương Tô hợp. Còn kinh Kim Cương đính Du Già thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát tu Hành Nghi quĩ quyển hạ và Kim Cương thọ mệnh Đà La Ni kinh pháp cũng có nói như trên. Ngoài ra, Mật giáo còn hợp chung 6 thứ: Hương đốt, nước trong(Át Già), hương thoa, tràng hoa, đèn sángvà thức uống ăn thành Lục chủng cúng dường. Trong Thiền Lâm Thiêu Hương được gọi là Niêm Hương, hoặc chú hương. Trong Pháp Hội, người bưng hộp hương, gọi là Thiêu Hương Thị Giả. Về cách Thiêu Hương thì điều Đường Đầu tiễn điểm trong Thiền uyển thanh qui quyển 5 có nói rất rõ ràng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q. 13.; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.trung (bản 3 quyển); kinh Quán Phật Tam Muội hải Q. 10.; phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q. 2.; kinh Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ Tát tâm mật ngôn Niệm Tụng nghi quĩ Q.thượng; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; Tam Hành Hương Chú Nguyện pháp trong Tứ phần Luật Hành sự sao Q.hạ; điều Tây Tự Đầu Thủ trong Sắc tuBách trượng thanh qui Q. 4.; mục Thụ trai pháp tắc trong Nam hải kí qui Nội Pháp truyện Q. 1.; Đại Tống Tăng Sử Lược Q.trung; Pháp uyên châu lâm Q. 36.]. (xt. Thướng Hương, Niêm Hương).