Tam Thừa

《三乘》 sān chéng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: yāna-traya, tri-yāna: ba cỗ xe. Cỗ xe là ví dụ cho giáo lý dẫn dắt Chúng Sanh đi đến giác ngộ; có Nhất Thừa () cho đến Ngũ Thừa (); đức Phật tùy theo Căn Cơ của Chúng Sanh là chậm chạp, trung bình, lanh lợi mà chế ra 3 loại Pháp Môn khác nhau gọi là Tam Thừa. (1) Thanh Văn Thừa (Sanskrit: śrāvaka-yāna, ), còn gọi là Tiểu Thừa (); nếu nhanh thì trong 3 đời, chậm thì trong vòng 60 kiếp, tu Pháp Không, cuối cùng đến đời này nghe giáp pháp của đức Như Lai, ngộ lý Tứ Đế (Sanskrit: catur-ārya-satya, Pāli: catu-ariya-sacca ), Chứng Quả A La Hán (Sanskrit: arhat, Pāli: arahant ). (2) Duyên Giác Thừa (Sanskrit: pratyeka-buddha-yāna, ), còn gọi là Trung Thừa (), Bích Chi Phật Thừa (), Độc Giác Thừa (); nếu nhanh thì trong 4 đời, chậm thì trong 100 kiếp tu Pháp Không, vào đời cuối cùng thì không nương vào giáo pháp của Như Lai, mà cảm các Ngoại Duyên như hoa bay, lá rụng, suối reo, v.v., tự giác ngộ lý Thập Nhị Nhân Duyên (Sanskrit: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, Pāli: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda ), và Chứng Quả Bích Chi Phật (). (3) Bồ Tát Thừa (Sanskrit: bodhisattva-yāna, ), hay còn gọi là Phật Thừa (), Đại Thừa (Sanskrit: mahāyāna, ); trong khoảng thời gian vô số kiếp tu hành hạnh Lục Độ (), rồi trong 100 kiếp trồng nhân 32 phước tướng để chứng vô thượng Bồ Đề. Ba cỗ xe này được ví cho xe dê, hươu, xe trâu; hay ví cho ba loại thú là voi, ngựa và thỏ. Như trong Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký Chú () quyển hạ do Vương Bột (, 649-675) nhà Đường soạn, Huệ Ngộ Đại Sư ()Nguyệt Luân Sơn (), vùng Tiền Đường () chú giải, có đoạn rằng: “Pháp Hoa Kinh Tam Xa dụ dã, Dương Xa dụ Thanh Văn Thừa, Lộc Xa dụ Duyên Giác Thừa, Ngưu Xa dụ Bồ Tát Thừa; Tam Thừa câu dĩ vận tải vi nghĩa (鹿, về Thí Dụ Ba Xe của Kinh Pháp Hoa, Xe Dê ví cho Thanh Văn Thừa, Xe Nai ví cho Duyên Giác Thừa, Xe Trâu ví cho Bồ Tát Thừa; cả Ba Thừa đều có nghĩa vận tải).” Hay như trong Phẩm Thí Dụ () của Pháp Hoa Kinh (Sanskrit: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, ) có giải thích rằng: “Nhược hữu Chúng Sanh, nội hữu trí tánh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, dục tốc xuất Tam Giới, tự cầu Niết Bàn, thị danh Thanh Văn Thừa. … Nhược hữu Chúng Sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, cầu tự nhiên tuệ, độc lạc thiện tịch, thâm tri Chư Pháp Nhân Duyên, thị danh Bích Chi Phật Thừa. … Nhược hữu Chúng Sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, cần tu tinh tấn, cầu Nhất Thiết Trí, Phật Trí, tự nhiên trí, vô sư trí, Như Lai tri kiến, lực, vô sở úy, mẫn niệm An Lạc, vô lượng Chúng Sanh, Lợi Ích Nhân Thiên, Độ Thoát Nhất Thiết, thị danh Đại Thừa (, Nếu có Chúng Sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, muốn mau ra Ba Cõi, tự cầu Niết Bàn, đó là Thanh Văn Thừa. … Nếu có Chúng Sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, cầu trí tuệ tự nhiên, vui một mình, khéo vắng lặng, biết sâu Nhân Duyên các pháp, đó là Bích Chi Phật Thừa. … Nếu có Chúng Sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng tu tinh tấn, cầu tất cả trí tuệ, trí tuệ Phật, trí tuệ tự nhiên, trí tuệ không cần thầy chỉ dạy, tri kiến của Như Lai, năng lực, sự khoogn sợ hãi, niệm thương xót An Lạc, vô lượng Chúng Sanh, làm Lợi Ích trời người, Độ Thoát hết thảy, đó là Đại Thừa).” Hoặc như trong Tứ Giáo Nghi Chú () quyển Thượng cho biết rằng: “Tam Thừa, thừa dĩ vận tải vi nghĩa; Thanh VănTứ Đế vi thừa, Duyên GiácThập Nhị Nhân Duyên vi thừa, Bồ TátLục Độ vi thừa, vận xuất Tam Giới quy ư Niết Bàn (, Ba Thừa, thừa có nghĩa là vận chuyển, Thanh Văn lấy Tứ Đế làm Phương Tiện vận chuyển, Duyên Giác lấy Thập Nhị Nhân Duyên làm Phương Tiện vận chuyển, Bồ Tát lấy Lục Độ làm Phương Tiện vận chuyển, chở cả Ba Cõi quay về Niết Bàn).” Hai Thừa đầu chỉ có tự lợi, không có lợi tha, nên được gọi là Tiểu Thừa (, cỗ xe nhỏ). Riêng Bồ Tát Thừa thì có đầy đủ cả tự lợi và lợi tha, nên có tên là Đại Thừa (, cỗ xe lớn). Một số Kinh Điển như Tịch Điều Âm Sở Vấn Kinh (調), Đại Tỳ Bà Sa Luận () quyển 127, Đại Trí Độ Luận () quyển 11 gọi Tam ThừaHạ Thừa (), Trung Thừa () và Thượng Thừa (). Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận () quyển 4, Lương Dịch Nhiếp Đại Thừa Luận Thích () quyển 1 gọi chung cả 2 thừa trước là Hạ Thừa, Bồ Tát Thừa là Thượng Thừa. Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai Tông lấy Tam Thừa làm Pháp Môn Phương Tiện, Cứu Cánh đều quy về Nhất Phật Thừa (); cho nên hai Tông Phái này chủ xướng tư tưởng “Tam Thừa Phương Tiện Nhất Thừa Chân Thật (便, Ba Thừa Phương Tiện Một Thừa Chân Thật).” Trong khi đó, Pháp Tướng Tông lại chủ trương ngược lại là “Tam Thừa Chân Thật Nhất Thừa Phương Tiện (便, Ba Thừa Chân Thật Một Thừa Phương Tiện).” Bên cạnh đó, Tam Thừa còn có nghĩa là Ba Thừa tùy thời tu tập của vị Bồ Tát, gồm: (1) Thiên Thừa (), tức Sơ Thiền (), Nhị Thiền (), Tam Thiền () và Tứ Thiền (). (2) Phạm Thừa (), tức từ, bi, hỷ và xả. (3) Thánh Thừa (), tức là Bát Chánh Đạo (Sanskrit: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, Pāli: ariyāṭṭhaṅgika-magga ), gồm Chánh Kiến (Sanskrit: samyag-dṛṣṭi, Pāli: sammā-diṭṭhi ), Chánh Tư Duy (Sanskrit: samyak-saṃkalpa, Pāli: sammā-saṅkappa ), Chánh Ngữ (Sanskrit: samyag-vāc, Pāli: sammā-vācā ), Chánh Nghiệp (Sanskrit: samyakkarmanta, Pāli: sammā-kammanta ), Chánh Mạng (Sanskrit: samyag-ājīva, Pāli: sammā-ājīva ), Chánh Tinh Tấn (Sanskrit: samyag-vyāyāma, Pāli: sammā-vāyāma ), Chánh Niệm (Sanskrit: samyak-smṛti, Pāli: sammā-sati ), và Chánh Định (Sanskrit: samyak-samādhi, Pāli: sammā-samādhi ).