Tam Muội Da Hình

《三昧耶形》 sān mèi yé xíng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Tam Ma Da hình. Gọi tắt: Tam hình. Chỉ cho các hình tướng như khí tượng, ấn khế... tiêu biểu cho bản thệ của các vị tôn.Cứ theo thuyết trong Lưỡng bộ Mạn Đồ La nghĩa kí quyển 5 thì Tam Muội Da Hình cũng gọi Ba La Mật hình, trụ trong hình Tam Muội da của chư tôn tức là hình tướng Nhập Định, lặng lẽ an trụ trong bản Thệ Nguyện. Tam Muội da có 4 nghĩa là Bình Đẳng, bản thệ, trừ chướng và Kinh Giác.1. Bình Đẳng: Hình Tam Muội da và ấn khế, khí trượng... tượng trưng cho Nội Chứng của Phật, cùng với nội đức, ngoại tướng đều Bình Đẳng không sai khác.
2. Bản thệ: Như tháp Ngũ Luân của đức Đại nhật.
3. Trừ chướng: Dùng hình tướng này biểu thị cho Chúng Sinh xa lìa 3 chướng Phiền Não, nghiệp và khổ.
4. Kinh Giác: Dùng hình Tam Muội da này đánh thức giấc ngủ dài của Chúng Sinh, khiến họ phát tâm tu hành. Như thanh kiếm sắc mà Bồ Tát Văn thù cầm tượng trưng cho nguyện xưa dùng đại trí để dứt trừ Phiền Não, hoa sen của Bồ Tát Quán âm, tượng trưng cho bản thệ Đại Bi đồng thể, không có Nhiễm Trước; bánh xe báu mà Bồ Tát Chuyển Pháp Luân cầm tượng trưng cho bản thệ Thuyết Pháp phá chấp. Khi cầm các hình Tam Muội da như dao, bánh xe báu, chày Kim Cương... thì Thiên Ma Ba Tuần không dám trái vượt, tự thân chư tôn cũng không thể trái vượt. Nếu Chúng Sinh thấy các hình Tam Muội da này mà tin tưởng nơi bản thệ rồi Như Pháp tu hành thì sẽ toại nguyện và được Phúc Đức. [X. Kim Cương Giới thất tập Q.thượng; Lưỡng bộ Mạn Đồ La tùy văn kí Q. 3.].