Quyến Thuộc Địa Ngục
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Tám Địa Ngục nóng căn bản, mỗi Địa Ngục có 16 Địa Ngục nhỏ phụ thuộc. Sau khi Chúng Sinh chịu các khổ báo ở Địa Ngục căn bản xong, được đưa đến các Địa Ngục Quyến Thuộc để chịu hết những khổ báo còn lại. Có 128 Địa Ngục Quyến Thuộc, nếu thêm các Địa Ngục căn bản (8 Địa Ngục nóng) nữa thì tất cả có 136 Địa Ngục (136 Nại Lạc Ca). Về nơi chỗ của 16 Địa Ngục phụ thuộc, các kinh luận nói có khác nhau. Theo kinh Chính Pháp Niệm Xứ quyền 5, mỗi Địa Ngục căn bản đều có 16 Địa Ngục Quyến Thuộc khác nhau, gọi là Thập lục Biệt Xứ Địa Ngục (16 chỗ Địa Ngục riêng biệt). Đó là:
1. Địa Ngục Đẳng Hoạt: Gồm 16 chỗ là: Thỉ nê xứ (chỗ phân và bùn), Đao luân xứ (chỗ dao và bánh xe), Ung nhiệt xứ (nơi những cái vò được nung nóng), Đa khổ xứ (chỗ nhiều khổ), Ám minh xứ (chỗ tối tăm), Bất hỉ xứ (chỗ không vui), Cực khổ xứ, Chúng bệnh xứ (nơi nhiều bệnh), Lưỡng thiết xứ (nơi cặp sắt), Ác trượng xứ (nơi gậy ác), Hắc Sắc thử lang xứ (nơi những con chuột và chó sói màu đen), Dị dị hồi chuyển xứ (nơi luôn luôn quay chuyển), Khổ bức xứ (nơi khổ làm ngặt), Bát đầu ma tu xứ, Pha trì xứ (nơi chứa nước)và Không trung thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trong Hư Không).
2. Địa ngụcHắc thằng: Gồm 16 chỗ, tên gọi cũng giống như trên.
3. Địa Ngục Chúng hợp: Gồm 16 nơi là: Đại lượng thụ khổ não xứ, Cát khố xứ (chỗ cắt, mổ), Mạch mạch đoạn xứ (nơi cắt đứt các gân máu)Ác Kiến xứ, Đoàn xứ (chỗ tụ họp), Đa khổ não xứ, Nhẫn độ xứ, Chu tru chu tru xứ (nơi giết chóc), Hà hà hề xứ (nơi tra hỏi), Lệ hỏa xuất xứ (nơi chảy nước mắt nóng), Nhất Thiết căn diệt xứ (tất cả các căn đều bị diệt), Vô Bỉ Ngạn thụ khổ xứ (nơi chịu Khổ Không có bờ bến), Bát đầu ma xứ (nơi da nổi những mụt màu đỏ), Đại bát đầu ma xứ, Hỏa ông xứ (nơi ngập lửa), Thiết hỏa mạt xứ (nơi mạt sắt nóng).
4. Địa Ngục khiếu hoán: Gồm 16 chỗ là: Đại hồng xứ (nơi gào to), Phổ thanh xứ (tiếng kêu khắp nơi), Phát hỏa lưu xứ(nơi chảy ra những sợi tóc lửa), Hỏa mạt trùng xứ (nơi những con trùng bằng lửa nhỏ li ti), Nhiệt thiết hỏa chử xứ (nơi những cái chày sắt nóng),Vũ viêm hỏa thạch xứ(nơi mưa đá lửa), Sát sát xứ (nơi giết chóc), Thiết lâm khoáng dã xứ (nơi đồng hoang rừng sắt), Phổ ám xứ (nơi tối tăm), Ám Ma La già ước khoáng dã xứ (nơi đồng hoang Ám Ma La già), Kiếm lâm xứ (nơi rừng gươm), Đại kiếm lâm xứ, Ba tiêu yên lâm xứ (nơi rừng chuối bốc lửa), Hữu yên hỏa lâm xứ (nơi có rừng bốc lửa), Hỏa vân vụ xứ (nơi mây, sương lửa) và Phân Biệt khổ xứ.
5. Địa Ngục Đại khiếu hoán: Gồm có 18 chỗ là: Hống hống xứ (nơi gào rống), Thụ khổ vô hữu số lượng xứ (nơi chịu Khổ Không có số lượng), Thụ kiên khổ não bất khả nhẫn nại xứ (nơi chịu những khổ não không thể nhẫn nại),Tùy ý áp xứ (nơi tùy ý đè ép), Nhất Thiết ám xứ (nơi tối tăm tràn lan), Nhân ám yên xứ (nơi người bị khói ám), Như phi trùng đọa xứ (nơi như trùng bay rơi xuống), Tử hoạt đẳng xứ (nơi sống cũng như chết), Dị dị chuyển xứ (nơi di chuyển luôn luôn), Đường bố vọng xứ (nơi trông chờ sợ hãi), Song bức não xứ (nơi bức bách khổ não), Điệt tương áp xứ nơi thay phiên đè nhau), Kim Cương tủy điểu xứ (nơi chim mỏ Kim Cương), Hỏa man xứ (nơi vòng hoa lửa), Thụ phong khổ xứ (chịu khổ mũi nhọn đâm), Thụ vô biên khổ xứ, Huyết tủy thực xứ (nơi ăn tủy máu)và Thập nhất viêm xứ. Tất cả có 18 chỗ (nhiều hơn các Địa Ngục khác 2 chỗ).
6. Địa Ngục Tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Đại thiêu xứ (nơi cháy lớn), Phân đồ lê ca xứ (nơi Phân đồ lê ca), Long toàn xứ (chỗ rồng xoáy), Xích đồng di nê ngư toàn xứ (chỗ cá Di nê đồng đỏ xoáy), Thiết hoặch xứ (chỗ vạc sắt), Huyết hà phiêu xứ(chỗ sông máu trôi), Nhiêu cốt tủy trùng xứ (chỗ xương tủy nhiều trùng), Nhất Thiết thục xứ (chỗ nấu chín tất cả), Vô chung một nhập xứ (nơi chìm xuống hun hút), Đại bát đầu ma xứ (nơi Đại bát đầu ma), Ác hiểm ngạn xứ (nơi bờ hiểm ác), Kim Cương cốt xứ(nơi xương Kim Cương), Hắc thiết thằng nhận giải thụ khổ xứ (nơi chịu khổ bị dây sắt nóng quấn), Na ca trùng trụ ác hỏa thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trói vào cột lửa bị trùng ca na rỉa rúc), Ám hỏa phong xứ (nơi gió lửa tối tăm) và Kim Cương thích phong xứ (nơi mũi nhọn Kim Cương đâm).
7. Địa Ngục Đại tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Nhất thiếtđại tiêu nhiệt xứ (nơi tất cả lửa đốt), Đại thân ác hống khả úy xứ (nơi thân ác to lớn gào thét đáng sợ), Hỏa kế xứ (nơi búi tóc lửa), Vũ sa hỏa xứ (nơi mưa cát lửa), Nội phí nhiệt xứ (nơi nóng sôi bên trong trào lên), Tra tra tra tê xứ (nơi kêu tra tra tra), Phổ thụ Nhất Thiết tư Sinh Khổ não xứ (nơi chịu tất cả khổ não của cuộc sống), Tì Đa La ni hà xứ (nơi sông Tì Đa La ni), Vô gián ám xứ (nơi không bao giờ có chút ánh sáng), Khổ man xứ (nơi chịu các nổi khổ triền miên), Vũ lũ man đẩu tẩu xứ (nơi mưa lửa liên miên), Man khối ô xứ, Bi khổ hống xứ (nơi kêu gào khổ thảm), Đại Bi xứ, Vô bi ám xứ, Mộc chuyển Địa Ngục xứ.
8. Địa Ngục A tị: Gồm 16 chỗ là: Điểu khẩu xứ (nơi miệng chim), Nhất Thiết hướng địa xứ (nơi tất cả hướng xuống đất), Vô Bỉ Ngạn Thường Trụ khổ não xứ (nơi chịu khổ não triền miên không bờ bến), Dã can hống xứ (nơi dã can kêu rống), Thiết dã can thực xứ (nơi dã can sắt ăn thịt), Hắc đỗ xứ (nơi bụng đen), Thân dương xứ, Mộng kiến uý xứ (nơi ác mộng), Thân dương thụ khổ xứ, Lưỡng sơn tụ xứ (nơi 2 quả núi ép lại), Hống sinh diêm bà cự độ xứ, Tinh man xứ,Khổ não cấp xứ, Xú khí phú xứ, Khoáng diệp và Thập nhất viêm xứ. Mười sáu Địa Ngục phụ thuộc của mỗi Địa Ngục căn bản đều giống nhau, gọi là Thập Lục Tiểu Địa Ngục, nhưng tên gọi được ghi trong các kinh luận thì có khác nhau. Như kinh Trường a hàm quyền 19 ghi: Hắc sa (cát đen), Phí thỉ (Phân sôi), Ngũ bách đinh (500 đinh), Cơ (đói), Khát, Nhất đồng phũ (1 chõ đồng), Đa đồng phủ (nhiều chõ đồng), Thạch ma (đá mài), Nùng huyết (máu mủ), Lượng hỏa (lượng lửa), Hôi hà (sông tro), Thiết hoàn (viên sắt), Cân phủ (búa rìu), Sài lang, Kiếm thụ (cây gươm) và Hàn băng (giá lạnh). Kinh Tăng nhất a hàm thì gọi là Thập lục cách tử. Tức là: Ưu bát, Bát đầu, Câu mâu đầu, Phân đà lợi, Vị tằng hữu, Vĩnh vô, Ngu hoặc, Súc tụ, Đao sơn, Thang hỏa, Hỏa sơn, Hôi hà, Kinh cức, Phí thỉ, Kiếm thụ và Nhiệt thiết hoàn. Luận Đại trí độ quyển 16 thì chia 16 Địa Ngục làm 2 loại: Nhiệt và Hàn. Tám nhiệt là: Khôi khanh (hầm than), Phí thỉ (phân sôi), Thiêu lâm (rừng cháy), Kiếm lâm (rừng gươm), Đao đạo (đường dao), Thiết thích lâm (rừng gai sắt), Hàm hà (sông mặn) và Đồngquyết (cọc đồng). Tám hàn là: Át phù đà, Ni la phù đà, A la la, A bà bà, Hầu hầu, Âu ba ba, Ba đầu ma và Ma Ha ba đầu ma. Mỗi Địa Ngục căn bản đều có 4 cửa, mỗi cửa có 4 chỗ (Tứ tăng), cho nên mỗi Địa Ngục căn bản lại có thêm 16 Địa Ngục phụ thuộc, gọi là Thập lục du tăng địa. Như Đường ổi tăng (tăng nướng cháy), Thi phẩn tăng (tăng cứt đái), Phong nhận tăng (tăng dao nhọn), Liệt hà tăng (tăng sông lửa)...Chữ tăng (thêm) hàm ý là Địa Ngục căn bản dùng 1 Khổ Cụ(đồ tra tấn)để trừng trị Tội Nhân, nhưng Địa Ngục phụ thuộc (Quyến Thuộc) thì dùng nhiều Khổ Cụ, cho nên gọi là Tăng. Ngoài ra, về vị trí của 8 Địa Ngục nóng căn bản có 2 thuyết, cho nên về vị trí của các Địa Ngục Quyến Thuộc cũng có 2 thuyết: Các kinh Trường a hàm...cho rằng các Địa Ngục Quyến Thuộc ở ngoài núi Thiết vi, còn luận Đại tì Bà Sa thì cho rằng chúng ở dưới cõi Diêm Phù Đề. [X. kinh Quán Phật Tam Muội Q. 5.; luận Đại tì Bà Sa Q. 172.; luận Câu xá Q. 11., luận Du Già sư địa Q. 4.]. (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).
1. Địa Ngục Đẳng Hoạt: Gồm 16 chỗ là: Thỉ nê xứ (chỗ phân và bùn), Đao luân xứ (chỗ dao và bánh xe), Ung nhiệt xứ (nơi những cái vò được nung nóng), Đa khổ xứ (chỗ nhiều khổ), Ám minh xứ (chỗ tối tăm), Bất hỉ xứ (chỗ không vui), Cực khổ xứ, Chúng bệnh xứ (nơi nhiều bệnh), Lưỡng thiết xứ (nơi cặp sắt), Ác trượng xứ (nơi gậy ác), Hắc Sắc thử lang xứ (nơi những con chuột và chó sói màu đen), Dị dị hồi chuyển xứ (nơi luôn luôn quay chuyển), Khổ bức xứ (nơi khổ làm ngặt), Bát đầu ma tu xứ, Pha trì xứ (nơi chứa nước)và Không trung thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trong Hư Không).
2. Địa ngụcHắc thằng: Gồm 16 chỗ, tên gọi cũng giống như trên.
3. Địa Ngục Chúng hợp: Gồm 16 nơi là: Đại lượng thụ khổ não xứ, Cát khố xứ (chỗ cắt, mổ), Mạch mạch đoạn xứ (nơi cắt đứt các gân máu)Ác Kiến xứ, Đoàn xứ (chỗ tụ họp), Đa khổ não xứ, Nhẫn độ xứ, Chu tru chu tru xứ (nơi giết chóc), Hà hà hề xứ (nơi tra hỏi), Lệ hỏa xuất xứ (nơi chảy nước mắt nóng), Nhất Thiết căn diệt xứ (tất cả các căn đều bị diệt), Vô Bỉ Ngạn thụ khổ xứ (nơi chịu Khổ Không có bờ bến), Bát đầu ma xứ (nơi da nổi những mụt màu đỏ), Đại bát đầu ma xứ, Hỏa ông xứ (nơi ngập lửa), Thiết hỏa mạt xứ (nơi mạt sắt nóng).
4. Địa Ngục khiếu hoán: Gồm 16 chỗ là: Đại hồng xứ (nơi gào to), Phổ thanh xứ (tiếng kêu khắp nơi), Phát hỏa lưu xứ(nơi chảy ra những sợi tóc lửa), Hỏa mạt trùng xứ (nơi những con trùng bằng lửa nhỏ li ti), Nhiệt thiết hỏa chử xứ (nơi những cái chày sắt nóng),Vũ viêm hỏa thạch xứ(nơi mưa đá lửa), Sát sát xứ (nơi giết chóc), Thiết lâm khoáng dã xứ (nơi đồng hoang rừng sắt), Phổ ám xứ (nơi tối tăm), Ám Ma La già ước khoáng dã xứ (nơi đồng hoang Ám Ma La già), Kiếm lâm xứ (nơi rừng gươm), Đại kiếm lâm xứ, Ba tiêu yên lâm xứ (nơi rừng chuối bốc lửa), Hữu yên hỏa lâm xứ (nơi có rừng bốc lửa), Hỏa vân vụ xứ (nơi mây, sương lửa) và Phân Biệt khổ xứ.
5. Địa Ngục Đại khiếu hoán: Gồm có 18 chỗ là: Hống hống xứ (nơi gào rống), Thụ khổ vô hữu số lượng xứ (nơi chịu Khổ Không có số lượng), Thụ kiên khổ não bất khả nhẫn nại xứ (nơi chịu những khổ não không thể nhẫn nại),Tùy ý áp xứ (nơi tùy ý đè ép), Nhất Thiết ám xứ (nơi tối tăm tràn lan), Nhân ám yên xứ (nơi người bị khói ám), Như phi trùng đọa xứ (nơi như trùng bay rơi xuống), Tử hoạt đẳng xứ (nơi sống cũng như chết), Dị dị chuyển xứ (nơi di chuyển luôn luôn), Đường bố vọng xứ (nơi trông chờ sợ hãi), Song bức não xứ (nơi bức bách khổ não), Điệt tương áp xứ nơi thay phiên đè nhau), Kim Cương tủy điểu xứ (nơi chim mỏ Kim Cương), Hỏa man xứ (nơi vòng hoa lửa), Thụ phong khổ xứ (chịu khổ mũi nhọn đâm), Thụ vô biên khổ xứ, Huyết tủy thực xứ (nơi ăn tủy máu)và Thập nhất viêm xứ. Tất cả có 18 chỗ (nhiều hơn các Địa Ngục khác 2 chỗ).
6. Địa Ngục Tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Đại thiêu xứ (nơi cháy lớn), Phân đồ lê ca xứ (nơi Phân đồ lê ca), Long toàn xứ (chỗ rồng xoáy), Xích đồng di nê ngư toàn xứ (chỗ cá Di nê đồng đỏ xoáy), Thiết hoặch xứ (chỗ vạc sắt), Huyết hà phiêu xứ(chỗ sông máu trôi), Nhiêu cốt tủy trùng xứ (chỗ xương tủy nhiều trùng), Nhất Thiết thục xứ (chỗ nấu chín tất cả), Vô chung một nhập xứ (nơi chìm xuống hun hút), Đại bát đầu ma xứ (nơi Đại bát đầu ma), Ác hiểm ngạn xứ (nơi bờ hiểm ác), Kim Cương cốt xứ(nơi xương Kim Cương), Hắc thiết thằng nhận giải thụ khổ xứ (nơi chịu khổ bị dây sắt nóng quấn), Na ca trùng trụ ác hỏa thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trói vào cột lửa bị trùng ca na rỉa rúc), Ám hỏa phong xứ (nơi gió lửa tối tăm) và Kim Cương thích phong xứ (nơi mũi nhọn Kim Cương đâm).
7. Địa Ngục Đại tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Nhất thiếtđại tiêu nhiệt xứ (nơi tất cả lửa đốt), Đại thân ác hống khả úy xứ (nơi thân ác to lớn gào thét đáng sợ), Hỏa kế xứ (nơi búi tóc lửa), Vũ sa hỏa xứ (nơi mưa cát lửa), Nội phí nhiệt xứ (nơi nóng sôi bên trong trào lên), Tra tra tra tê xứ (nơi kêu tra tra tra), Phổ thụ Nhất Thiết tư Sinh Khổ não xứ (nơi chịu tất cả khổ não của cuộc sống), Tì Đa La ni hà xứ (nơi sông Tì Đa La ni), Vô gián ám xứ (nơi không bao giờ có chút ánh sáng), Khổ man xứ (nơi chịu các nổi khổ triền miên), Vũ lũ man đẩu tẩu xứ (nơi mưa lửa liên miên), Man khối ô xứ, Bi khổ hống xứ (nơi kêu gào khổ thảm), Đại Bi xứ, Vô bi ám xứ, Mộc chuyển Địa Ngục xứ.
8. Địa Ngục A tị: Gồm 16 chỗ là: Điểu khẩu xứ (nơi miệng chim), Nhất Thiết hướng địa xứ (nơi tất cả hướng xuống đất), Vô Bỉ Ngạn Thường Trụ khổ não xứ (nơi chịu khổ não triền miên không bờ bến), Dã can hống xứ (nơi dã can kêu rống), Thiết dã can thực xứ (nơi dã can sắt ăn thịt), Hắc đỗ xứ (nơi bụng đen), Thân dương xứ, Mộng kiến uý xứ (nơi ác mộng), Thân dương thụ khổ xứ, Lưỡng sơn tụ xứ (nơi 2 quả núi ép lại), Hống sinh diêm bà cự độ xứ, Tinh man xứ,Khổ não cấp xứ, Xú khí phú xứ, Khoáng diệp và Thập nhất viêm xứ. Mười sáu Địa Ngục phụ thuộc của mỗi Địa Ngục căn bản đều giống nhau, gọi là Thập Lục Tiểu Địa Ngục, nhưng tên gọi được ghi trong các kinh luận thì có khác nhau. Như kinh Trường a hàm quyền 19 ghi: Hắc sa (cát đen), Phí thỉ (Phân sôi), Ngũ bách đinh (500 đinh), Cơ (đói), Khát, Nhất đồng phũ (1 chõ đồng), Đa đồng phủ (nhiều chõ đồng), Thạch ma (đá mài), Nùng huyết (máu mủ), Lượng hỏa (lượng lửa), Hôi hà (sông tro), Thiết hoàn (viên sắt), Cân phủ (búa rìu), Sài lang, Kiếm thụ (cây gươm) và Hàn băng (giá lạnh). Kinh Tăng nhất a hàm thì gọi là Thập lục cách tử. Tức là: Ưu bát, Bát đầu, Câu mâu đầu, Phân đà lợi, Vị tằng hữu, Vĩnh vô, Ngu hoặc, Súc tụ, Đao sơn, Thang hỏa, Hỏa sơn, Hôi hà, Kinh cức, Phí thỉ, Kiếm thụ và Nhiệt thiết hoàn. Luận Đại trí độ quyển 16 thì chia 16 Địa Ngục làm 2 loại: Nhiệt và Hàn. Tám nhiệt là: Khôi khanh (hầm than), Phí thỉ (phân sôi), Thiêu lâm (rừng cháy), Kiếm lâm (rừng gươm), Đao đạo (đường dao), Thiết thích lâm (rừng gai sắt), Hàm hà (sông mặn) và Đồngquyết (cọc đồng). Tám hàn là: Át phù đà, Ni la phù đà, A la la, A bà bà, Hầu hầu, Âu ba ba, Ba đầu ma và Ma Ha ba đầu ma. Mỗi Địa Ngục căn bản đều có 4 cửa, mỗi cửa có 4 chỗ (Tứ tăng), cho nên mỗi Địa Ngục căn bản lại có thêm 16 Địa Ngục phụ thuộc, gọi là Thập lục du tăng địa. Như Đường ổi tăng (tăng nướng cháy), Thi phẩn tăng (tăng cứt đái), Phong nhận tăng (tăng dao nhọn), Liệt hà tăng (tăng sông lửa)...Chữ tăng (thêm) hàm ý là Địa Ngục căn bản dùng 1 Khổ Cụ(đồ tra tấn)để trừng trị Tội Nhân, nhưng Địa Ngục phụ thuộc (Quyến Thuộc) thì dùng nhiều Khổ Cụ, cho nên gọi là Tăng. Ngoài ra, về vị trí của 8 Địa Ngục nóng căn bản có 2 thuyết, cho nên về vị trí của các Địa Ngục Quyến Thuộc cũng có 2 thuyết: Các kinh Trường a hàm...cho rằng các Địa Ngục Quyến Thuộc ở ngoài núi Thiết vi, còn luận Đại tì Bà Sa thì cho rằng chúng ở dưới cõi Diêm Phù Đề. [X. kinh Quán Phật Tam Muội Q. 5.; luận Đại tì Bà Sa Q. 172.; luận Câu xá Q. 11., luận Du Già sư địa Q. 4.]. (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).