Quyến Thuộc Diệu

《眷屬妙》 juàn shǔ miào

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Diệu thứ 9 trong Tích môn Thập Diệu của kinh Pháp hoa do tông Thiên thai lập ra. Tức chỉ cho những người trong các kiếp Quá Khứ từng đã Thụ Trì giáo pháp của Như Lai, nay đến hỗ trợ Như Lai trong việc giáo hóa. Những Quyến Thuộc này của Như Lai được chia làm 5 loại đều chẳng thể nghĩ bàn, nên gọi là Quyến Thuộc Diệu:
1. Lí tính Quyến Thuộc: Chỉ cho hết thảy Chúng Sinh. Vì Chúng Sinh và Phật thể tính như nhau, Bình Đẳng không khác, nên dù có Kết Duyên hay không, đều là Phật tử.
2. Nghiệp sinh Quyến Thuộc: Chỉ cho những người kiếp trước nhờ Thiện Nghiệp nghe pháp, mà đời này gặp Phật nghe pháp và được độ. Những Chúng Sinh này kiếp trước Kết Duyên với đức Phật Đại thông, nên đời này đều được hóa độ.
3. Nguyện Sinh Quyến Thuộc: Chỉ cho những Chúng Sinh ở các kiếp trước từng đã Phát Nguyện, nguyện được sinh vào thời Đại Đức Phật ấy ra đời. Những Chúng Sinh này, theo nguyện kiếp trước mà đời nay sinh đến đây, bất luận là thân hay oán, đều được thấy Phật nghe pháp.
4. Thần Thông Quyến Thuộc: Chỉ cho Chúng Sinh đời trước từng được gặp Phật mà Phát Chân trí, nhưng vẫn chưa dứt hết Phiền Não, còn phải thụ sinh lần nữa, cho nên, hoặc đang ở cõi trời, hay đang ở các phương khác, nay nghe Phật xuất thế, hoặc do Nguyện Lực, hoặc nhờ sức Thần Thông mà sinh đến cõi này, bất luận là thân hay oán, đều nhờ sự giúp Phật giáo hóa mà đoạn trừ những hoặc chướng còn lại, để ra khỏi 3 cõi.
5. Ứng sinh Quyến Thuộc: Chỉ cho những người đã dứt trừ hoặc Vô Minh mà được Pháp Thân căn bản, lại dùng thân ứng hóa đến cõi Sa Bà, dắt dẫn Chúng Sinh, khiến họ hướng về Phật Đạo. Như Phật Mẫu là phu nhân Ma da, con Phật là La Hầu La, cho đến các vị Thanh Văn...tất cả đều là các Bồ Tát Pháp Thân Nội Bí ngoại hiện (pháp chứng ngộ bên trong là Bồ Tát, bên ngoài hiện tướng Thanh Văn), ứng duyên mà đến cõi này. [X. Pháp Hoa Huyền Nghĩa Q. 6. hạ].