Phật Hộ

《佛護》 fú hù

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Buddhapàlita. Tạng: Saís-rgyas bskyaís. Luận sư của học phái Trung quán ở Ấn Độ, là Tổ khai sáng của phái Trung quán cụ duyên (Phạm: Màdhyamika- Pràsaígika), sống và hoạt động ở khoảng năm 470 đến năm 540 Tây lịch. Cứ theo Phật giáo sử của ngài Đa La Na Tha (Phạm: Tàranàtha, Tạng: Kun-dga# sĩií-po– Cổn cát ninh ba) thì ngài Phật Hộ sinh ra ở Phiếm sa khổ lợi đà (Phạm: Haôsakfđa) thuộc nước Thản Bà La (Phạm: Taôbara), Nam Ấn Độ. Sư vốn là Đệ Tử của ngài Long hữu (Phạm: Nàgamitra), nhưng đồng thời cũng thờ ngài Tăng Già la khổ thập đạt (Phạm: Saôgharakwita, Hán dịch: Tăng Hộ) làm thầy, học tập tư tưởng Trung quán của ngài Long Thụ, chứng được trí tối thượng. Sư Lễ Bái thánh dung Bồ Tát Văn thù, trụ ở Già Lam tại Đàn đa phất lợi (Phạm: Dantapuri) để giảng pháp, đồng thời chú thích các bộ luận của các ngài Long ThụĐề Bà, nhờ đó nên Thành Tựu Lê lư bộ (Phạm: Rilbu). Vì thế mà sư được xếp vào 1 trong 8 nhà chú thích bộ Trung Luận căn bản và được tôn xưng là Trưởng lão Phật Hộ. Trong lịch sử tư tưởng Trung quán ở Ấn Độ, sư có 1 địa vị quan trọng và từng đứng trên lập trường của mình mà phê phán lập trường của Luận sư Thanh Biện. Đến khi Luận sư Nguyệt xứng xuất hiện thì địa vị của sư lại càng được khẳng định mà trở thành nhà học giả Trung Luận ưu việt. Còn ngài Tông Khách Ba thì gọi các ngài Long Thụ, Đề Bà là Căn Bản Trung Quán Sư mà gọi những nhà sau ngài Phật Hộ là Tùy Trì Trung Quán Sư.Bộ Trung Luận chú do sư soạn, trừ 3 phẩm đầu,còn lại đều là ngắn gọn, sáng sủa, dễ hiểu. Đệ Tử của sư rất đông. [X. luận Bát Nhã đăng; The Central Philosophy of Buddhism by T.R.V. Mùrti; The Conception of Buddhist Nirvàịa by Th. Stcherbatsky; Ấn Độ Triết Học nghiên cứu đệ ngũ (Vũ tỉnh Bá thọ); Tây Tạng Phật Giáo nghiên cứu (Trường vĩ Nhã nhân)].