Phật Hoá

《佛化》 fú huà

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(1834-1913) Danh Tăng Trung Quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Thanh, người Tuyền châu, Phúc kiến, họ Lâm, Pháp Danh Như Huyễn. Năm 24 tuổi, sư thờ Cư Sĩ Thăng hư làm thầy, ăn chay học Phật. Năm Hàm phong thứ 10 (1860), sư đến Chương phố, trụ ở am Thiên hồ trên đỉnh núi Đại mạo suốt 11 năm. Năm Quang tự thứ 4 (1878), sư đến núi Long trì vườn hoa Hải trừng nhóm họp đồ chúng dạy học, tiếng tăm của sư truyền xa. Sư tự biết với thân phận Cư Sĩ không thể trụ trì Phật Pháp, nên vào năm Quang tự 12 (1886), sư muốn lễ ngài Phật Thừa làm thầy, nhưng ngài Phật Thừa thấy sư lớn tuổi hơn mình, lại là người khổ học Chuyên Tu nhiều năm, đức cao đạo trọng, liền đến trước tượng Tổ Sư thay mặt Tổ Sư làm lễ cạo tóc Xuất Gia cho sư, rồi kết làm Huynh Đệ đồng môn. Năm ấy, sư đến núi Cổ Sơn ở Phúc châu Thụ Giới Cụ Túc. Ít lâu sau, sự trụ trì chùa Tuyết phong ở núi Dương mai tại Nam an, phỏng theo Gia Phong của Tổ Bách trượng, chủ trương chế độ nông thiền, người từ khắp nơi về cầu pháp học đạo có tới hơn 1.000 vị. Những vị tăng tài trong Tông Môn tại Mân nam thời cận đại phần nhiều đã được sư giáo hóa. Năm Dân quốc thứ 2 (1913), sư Thị Tịch, thọ 80 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Mật khế chân nguyên.