Phật Hiệu

《佛號》 fú hào

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa. (1) Danh Hiệu đức Phật, như Thế Tôn (), Như Lai (), Cù Đàm (), v.v. Như trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 2, phần Đệ Thập Bát Tổ Già Da Xá Đa (), có đoạn: “Bỉ văn Phật Hiệu, tâm thần tủng nhiên, tức thời bế hộ (, kia nghe hiệu Phật, tâm thần kính sợ, tức thời đóng cửa).” (2) Đặc biệt chỉ cho các Hành Giả Tịnh Độ Tông thường xuyên niệm Danh Hiệu A Di Đà Phật. Như trong Cư Sĩ Truyện (, Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 41, phần Đường Thể Như (), có đoạn: “Thọ Niệm Phật Tam Muội, toại lực hành chi, duyệt thập tam niên như nhất nhật. Niên lục thập, đương Trọng Đông chi đán, vị chư tử viết: 'Tân xuân thập hữu nhất nhật ngô hành hĩ.' Chí kỳ, quán thấu chỉnh y, đoan tọa Thủ Kết ấn, Khẩu Xưng Phật Hiệu, vi tiếu nhi thệ (, ông thọ Pháp Môn Niệm Phật Tam Muội, bèn dốc lực Hành Trì, trãi qua mười ba năm giống như một ngày. Đến năm sáu mươi tuổi, vào sáng sớm giữa Đông, ông bảo các con rằng: 'Vào ngày mười một năm mới, ta sẽ đi.' Khi đến ngày, ông rửa mặt súc miệng, chỉnh tề y phục, ngồi ngay ngắn, tay bắt ấn, miệng niệm Danh Hiệu Phật, mĩm cười mà ra đi).” Hay trong Cư Sĩ Truyện quyển 48, phần Ngô Chiêm Lâu (), cũng có đoạn rằng: “Tảo tu Tịnh Nghiệp, vãn dĩ gia sự phó nhị tử, nhất ý Tây mại, Nhật Trì Phật Hiệu vạn thanh, kiêm tác Tây phương quán (西西, sớm tu Tịnh Nghiệp, cuối đời ông giao phó việc nhà lại cho hai con, một lòng về Tây phương, hằng ngày trì Danh Hiệu Phật vạn tiếng, còn quán cảnh giới Tây phương nữa).”