Phật

《佛》

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s, Pāli: buddha: gọi đủ là Phật Đà () Hưu Đồ (), Phù Đà (), Phù Đồ (), Phù Đầu (), Một Đà (), Bột Đà (), Bộ Tha (); ý dịch là Giác Giả (), Tri Giả (), Giác (); nghĩa là đấng giác ngộ chân lý; cũng có nghĩa là đầy đủ tự giác (, tự giác ngộ mình), giác tha (, làm cho người khác giác ngộ), giác Hành Viên mãn (滿, giác ngộ và thực hành đều viên mãn), thấy biết Như Thật hết thảy tánh tướng của các pháp, là bậc Đại Thánh Thành Tựu Đẳng Chánh Giác. Đây là quả vị tối cao trong tu hành của Phật Giáo. Ba yếu tố tự giác, giác tha và giác Hành Viên mãn, đối với hạng Phàm Phu thì không yếu tố nào đầy đủ cả; đối với hàng Nhị Thừa Thanh Văn (Sanskrit: śrāvaka, Pāli: sāvaka ), Duyên Giác (Sanskrit: pratyeka-buddha, Pāli: pacceka-buddha ) thì chỉ có tự giác; Bồ Tát (Sanskrit: bodhisattva, Pāli: bodhisatta ) thì có đủ tự giác và giác tha; chỉ có Phật mới có đủ ba yếu tố này; cho nên đây là tôn xưng cao quý nhất. Về nội dung chứng ngộ của đức Phật, các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Về thân Phật, cõi nước Phật, v.v., các Tông Phái cũng có nhiều dị thuyết. Cũng có biết bao danh xưng để tán than đức Phật như 10 Danh Hiệu của đức Như Lai, Nhất Thiết Tri Giả (, người biết tất cả), Nhất Thiết Kiến Giả (, người thấy tất cả), Tri Đạo Giả (, người biết đạo), Khai Đạo Giả (, người khai mở đạo [con đường]), Thuyết Đạo Giả (, người thuyết về đạo), Thế Tôn (, đấng được cuộc đời tôn kính), Thế Hùng (, bậc hùng mạnh có thể đoạn trừ mọi Phiền Não của Thế Gian), Thế Nhãn (, người có con mắt dẫn dắt Thế Gian), Thế Anh (, bậc ưu tú nhất Thế Gian), Thiên Tôn (, Đệ Nhất Nghĩa Thiên tối thắng trong 5 vị trời), Đại Giác Thế Tôn (, hay Đại Giác Tôn), Giác Vương (, vua giác ngộ), Giác Hoàng (, vua giác ngộ), Pháp Vương (, vua của các pháp), Đại Đạo Sư (, vị thầy hướng dẫn vĩ đại), Đại Thánh Nhân (), Đại Sa Môn (), Đại Tiên (, đấng tôn kính nhất trong Chư Tiên), Đại Y Vương (, như danh y tùy theo bệnh mà cho thuốc hay, đức Phật là người tùy theo tâm bệnh mà Thuyết Pháp), Phật Thiên (), Phật Nhật (, đức Phật như mặt trời chiếu sang khắp nơi), Lưỡng Túc Tôn (, đấng tôn kính nhất trong loài có hai chân, lưỡng túc ở đây còn có nghĩa là đầy đủ hai yếu tố nguyện và hạnh), Nhị Túc Tôn (), Lưỡng Túc Tiên (), Nhị Túc Tiên (), Thiên Trung Thiên (, bậc tối thắng trong Chư Thiên), Nhân Trung Ngưu Vương (, tỷ dụ đức Phật là vua của loài trâu), Nhân Hùng Sư Tử (, tỷ dụ đức Phật là con sư tử hùng mạnh trong loài người), v.v. Đức Phật là người có thể hóa độ, dẫn dắt mình và người khác, nên có tên là Năng Nhân (); cho nên Phật A Di Đà cũng được gọi là An Lạc Năng Nhân (). Đức Phật có những đức tính đặc thù, như thân Ngài có 32 tướng tốt, 48 vẻ đẹp; ngoài ra còn có 10 Lực, 18 pháp bất cọng, v.v. Định, Trí và Bi của Phật đều tối thắng, nên gọi là Đại Định (), Đại Trí (), Đại Bi (); phối với Ba Đức là Đoạn Đức (), Trí Đức ()Ân Đức (), gọi chung là Đại Định Trí Bi (). Chư Phật xuất hiện trong thời Quá Khứ được gọi là Quá Khứ Phật () hay Cổ Phật (), như 7 vị Phật Quá Khứ, Phật Nhiên Đăng (Sanskrit: Dīpaṃkara, ), v.v. Chư Phật sẽ xuất hiện nơi cõi Ta Bà trong tương lai thì gọi là Hậu Phật () hay Đương Lai Phật (), như Phật Di Lặc (Sanskrit: Maitreya, Pāli: Metteyya ). Ban đầu, Phật là chỉ cho đức Phật của lịch sử, tức là Phật Thích Ca; về sau sản sinh tư tưởng 7 vị Phật Quá Khứ, rồi lại có Phật tương lai và đức Phật Di Lặc; nay khoảng cách giữa đức Phật Thích Ca và Phật Di Lặc lại có thời gian không có Phật. Phật Giáo Nguyên Thủy thì cho rằng trong đời hiện tại không thể tồn tại cả hai vị Phật như vậy; đến thời kỳ Phật Giáo Đại Thừa, tùy Thế Giới quan mở rộng, cho rằng trong Nhất Thời có nhiều đức Phật tồn tại. Tỷ dụ như, phương Đông có Phật A Súc (Sanskrit: Akṣhobhya, ), phương Tây có Phật A Di Đà (Sanskrit: Amitāyus, Amitābha, ); đồng thời ngay hiện tại, ở Thế Giới phương khác lại có vô số chư Phật Hiện hữu, gọi là Thập Phương hằng sa chư Phật (, chư Phật nhiều như số cát Sông Hằng ở mười phương). Đại Chúng Bộ (s, Pāli: Mahāsāṅghika ) của Phật Giáo Nguyên Thủy công nhận rằng Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đồng thời có các đức Phật khác tồn tại, nên chủ Trương Thuyết gọi là “nhất Phật Nhất Giới, đa Phật đa giới (, một đức Phật một Thế Giới, nhiều đức Phật nhiều Thế Giới).” Hữu Bộ (Sanskrit: Sarvāstivādin, ) thì chủ Trương Thuyết “đa giới nhất Phật (, nhiều Thế Giới một đức Phật).” Chữ “giới ()” ở đây nghĩa là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Ngoài ra, ba đời chư Phật tức chỉ cho ngàn vị Phật của Trang Nghiêm Kiếp () trong thời Quá Khứ, ngàn vị Phật của Hiền Kiếp () trong thời hiện tại, và ngàn vị Phật của Tinh Tú Kiếp (宿) trong Thời Tương lai; hợp lại thành ba ngàn vị Phật. Danh xưng của chư vị Phật này có trong Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh Kinh ().