Nan Hành Đạo Dị Hành Đạo
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Gọi tắt: Nan dị Nhị Đạo. Đạo khó tu, đạo dễ tu, phán giáo của tông Tịnh Độ. Tông này căn cứ vào thuyết Nan dị Nhị Đạo của Bồ Tát Long Thụ mà chia giáo pháp của đức Phật thành Nan Hành Đạo và Dị Hành Đạo. Dùng sự khó khăn của người đi bộ trên đường để ví dụ Chúng Sinh trong cõi đời 5 trược ác mà muốn cậy vào sức của chính mình tu hành để mong đạt được quả Thánh, gọi là Nan Hành Đạo; trái lại, dùng sự dễ dàng của việc đi thuyền dưới sông để ví dụ Chúng Sinh nương vào lòng từ bi và trí tuệ rộng lớn của Phật làm Phương Tiện vãng sinh Tịnh Độ, khai ngộ Chứng Quả, thì gọi là Dị Hành Đạo. Luận Thập Trụ trì Bà Sa quyển 5 (Đại 26, 41 trung) nói: Phật Pháp có vô lượng môn, như đường đi ở Thế Gian có khó có dễ, đi bộ thì khó nhọc, đi thuyền thì khỏe khoắn; đạo Bồ Tát cũng thế, hoặc có người siêng Năng Hành trì, hoặc có người lấy lòng tin làm Phương Tiện, dễ làm mà mau đạt đến A duy việt trí (không trở lui). Theo Vãng Sinh Luận chú quyển thượng của ngài Đàm Loan, thì vào thời Đại Không có Phật mà tự lực Hành Trì để mong đạt đến quả vị Bất Thoái Chuyển là 1 việc rất khó, gọi là Nan Hành Đạo. Ngài Đàm Loan còn chia Nan Hành Đạo làm 5 thứ:
1. Ngoại Đạo cùng tu thiện làm mê loạn pháp của Bồ Tát.
2. Hạnh tự lợi của Thanh Văn làm chướng ngại lòng từ bi.
3. Kẻ ác vô cớ phá hoại hạnh Thù Thắng của người khác.
4. Quả thiện Điên Đảo hay phá hoại hạnh thanh tịnh.
5. Chỉ nhờ tự lực chứ không nương vào Tha Lực. Năm điều trên đây luôn ở trước mắt, khiến cho người tự lực tu hành khó Thành Tựu Đạo Quả, giống như cái khó khăn vất vả của người đi bộ trên đường. Nhưng, nếu người tu hành Dị Hành Đạo, chỉ nương vào Nhân Duyên tin Phật và chí thành Phát Nguyện vãng sinh Tịnh Độ, thì nhờ Nguyện Lực của chư Phật, chắc chắn được vãng sinh, cũng dễ dàng và nhẹ nhàng như người ngồi thuyền đi trên mặt sông vậy. Trong An Lạc Tập quyển thượng, ngài Đạo Xước, vị Cao Tăng Tông Tịnh Độ Trung Quốc sống vào đời Đường, cũng dựa vào thuyết Nan dị Nhị Đạo mà chia các Pháp Môn làm 2 loại: Tự lực và Tha Lực, Tự nhiếp và Tha Nhiếp mà lập ra Thánh Đạo Môn và Tịnh Độ Môn; Thánh Đạo Môn tức Nan Hành Đạo, là pháp tu hành tự lực, tự nhiếp; còn Tịnh Độ Môn tức Dị Hành Đạo, là pháp tu hành Tha Lực, Tha Nhiếp. Về sau, tại Nhật bản, có các ngài Nguyên Tín, Nguyên Không, Thân Loan v.v... kế thừa và truyền bá thuyết này của ngài Đạo Xước, Như Thuyết Nhị song tứ trùng của ngài Thân Loan, tức trong Thánh Đạo Môn, Nan Hành Đạo lại chia ra 2 thứ là Thụ Xuất và Thụ siêu. Thụ Xuất là chỉ cho chủ trương tu hành trải qua nhiều kiếp mới mong Chứng Quả của các Tông Phái thuộc Tiệm Giáo, như các Tông Pháp tướng, Tam Luận v.v...; còn Thụ siêu là chỉ cho chủ trương tu hành ngay thân này Chứng Quả Thành Phật của các Tông Phái thuộc Đốn Giáo, như các tông Phật Tâm(Thiền), Chân Ngôn, Pháp hoa, Hoa nghiêm v.v... Ngoài ra, Dị Hành Đạo nói trong luận Thập Trụ tì Bà Sa quyển 5 của ngài Long Thụ là chỉ cho Pháp Môn tu hành xưng niệm Danh Hiệu của chư Phật, Bồ Tát; nhưng đến đời sau, các vị Cao Tăng ở Trung Quốc và Nhật bản, như ngài Đàm Loan, ngài Nguyên Không v.v... thì chỉ y vào Phật A di đà mà bàn đạo Dị Hành, nhấn mạnh rằng Công Đức Thù Thắng của Bản Nguyện Tha Lực là đạo dễ làm. [X. An Lạc Tập Q.hạ; Vãng Sinh Luận chú kí Q. 1.; Tuyển trạch Bản Nguyện Niệm Phật tập Q.thượng; Ngu thốc sao Q.thượng].
1. Ngoại Đạo cùng tu thiện làm mê loạn pháp của Bồ Tát.
2. Hạnh tự lợi của Thanh Văn làm chướng ngại lòng từ bi.
3. Kẻ ác vô cớ phá hoại hạnh Thù Thắng của người khác.
4. Quả thiện Điên Đảo hay phá hoại hạnh thanh tịnh.
5. Chỉ nhờ tự lực chứ không nương vào Tha Lực. Năm điều trên đây luôn ở trước mắt, khiến cho người tự lực tu hành khó Thành Tựu Đạo Quả, giống như cái khó khăn vất vả của người đi bộ trên đường. Nhưng, nếu người tu hành Dị Hành Đạo, chỉ nương vào Nhân Duyên tin Phật và chí thành Phát Nguyện vãng sinh Tịnh Độ, thì nhờ Nguyện Lực của chư Phật, chắc chắn được vãng sinh, cũng dễ dàng và nhẹ nhàng như người ngồi thuyền đi trên mặt sông vậy. Trong An Lạc Tập quyển thượng, ngài Đạo Xước, vị Cao Tăng Tông Tịnh Độ Trung Quốc sống vào đời Đường, cũng dựa vào thuyết Nan dị Nhị Đạo mà chia các Pháp Môn làm 2 loại: Tự lực và Tha Lực, Tự nhiếp và Tha Nhiếp mà lập ra Thánh Đạo Môn và Tịnh Độ Môn; Thánh Đạo Môn tức Nan Hành Đạo, là pháp tu hành tự lực, tự nhiếp; còn Tịnh Độ Môn tức Dị Hành Đạo, là pháp tu hành Tha Lực, Tha Nhiếp. Về sau, tại Nhật bản, có các ngài Nguyên Tín, Nguyên Không, Thân Loan v.v... kế thừa và truyền bá thuyết này của ngài Đạo Xước, Như Thuyết Nhị song tứ trùng của ngài Thân Loan, tức trong Thánh Đạo Môn, Nan Hành Đạo lại chia ra 2 thứ là Thụ Xuất và Thụ siêu. Thụ Xuất là chỉ cho chủ trương tu hành trải qua nhiều kiếp mới mong Chứng Quả của các Tông Phái thuộc Tiệm Giáo, như các Tông Pháp tướng, Tam Luận v.v...; còn Thụ siêu là chỉ cho chủ trương tu hành ngay thân này Chứng Quả Thành Phật của các Tông Phái thuộc Đốn Giáo, như các tông Phật Tâm(Thiền), Chân Ngôn, Pháp hoa, Hoa nghiêm v.v... Ngoài ra, Dị Hành Đạo nói trong luận Thập Trụ tì Bà Sa quyển 5 của ngài Long Thụ là chỉ cho Pháp Môn tu hành xưng niệm Danh Hiệu của chư Phật, Bồ Tát; nhưng đến đời sau, các vị Cao Tăng ở Trung Quốc và Nhật bản, như ngài Đàm Loan, ngài Nguyên Không v.v... thì chỉ y vào Phật A di đà mà bàn đạo Dị Hành, nhấn mạnh rằng Công Đức Thù Thắng của Bản Nguyện Tha Lực là đạo dễ làm. [X. An Lạc Tập Q.hạ; Vãng Sinh Luận chú kí Q. 1.; Tuyển trạch Bản Nguyện Niệm Phật tập Q.thượng; Ngu thốc sao Q.thượng].