Nan Hoá
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Khó giáo hóa. Chỉ cho những Chúng Sinh Căn Tính kém cỏi, ương ngạnh khó giáo hóa để đưa họ vào Phật Đạo. Theo phẩm Hương Tích Phật trong kinh Duy Ma cật quyển hạ, người ở cõi này bướng bỉnh, ương ngạnh, khó giáo hóa, cho nên đức Thế Tôn mới dùng những lời cứng rắn để Điều Phục họ. Luận Đại trí độ quyển 91 cũng cho rằng, Chư Thiên ở cõi Dục bị 5 món dục tuyệt hảo làm cho mê muội, cho nên khó giáo hóa được, gọi là Dục Thiên nan hóa. Còn Chư Thiên ở cõi Sắc thì bị cái vui thiền định Thế Gian Mê Hoặc nên cũng khó giáo hóa họ, gọi là Sắc thiên nan hóa. Hai loại này gọi chung là Nhị nan hóa. Phẩm Hiện bệnh trong kinh Niết Bàn quyển 11 (bản Bắc) nêu ra 3 loại Chúng Sinh khó giáo hóa là:
1. Báng Đại Thừa: Người chê bai giáo pháp Đại Thừa.
2. Ngũ Nghịch: Người phạm 5 tội trái Đạo Lí.
3. Nhất Xiển Đề: Kẻ không tin Chính Pháp, bác luật Nhân Quả. Ba loại người khó giáo hóa trên đây được gọi chung là Nan hóa tam cơ; cũng ví dụ như chứng bệnh khó trị, cho nên còn gọi là Nan trị Tam Bệnh, Nan trị cơ. Đối với 3 loại Chúng Sinh này, các giáo pháp của hàng Tam Thừa không cứu được, chỉ có giáo pháp Nhất Thừa mới có thể cứu được. Tịnh Độ Chân Tông của Phật giáo Nhật bản thì cho rằng, chỉ có Bản Nguyện của đức Phật A di đà là cứu chữa được 3 loại Căn Cơ khó giáo hóa này. [X. kinh Niết Bàn Q. 10. (bản Nam)].
1. Báng Đại Thừa: Người chê bai giáo pháp Đại Thừa.
2. Ngũ Nghịch: Người phạm 5 tội trái Đạo Lí.
3. Nhất Xiển Đề: Kẻ không tin Chính Pháp, bác luật Nhân Quả. Ba loại người khó giáo hóa trên đây được gọi chung là Nan hóa tam cơ; cũng ví dụ như chứng bệnh khó trị, cho nên còn gọi là Nan trị Tam Bệnh, Nan trị cơ. Đối với 3 loại Chúng Sinh này, các giáo pháp của hàng Tam Thừa không cứu được, chỉ có giáo pháp Nhất Thừa mới có thể cứu được. Tịnh Độ Chân Tông của Phật giáo Nhật bản thì cho rằng, chỉ có Bản Nguyện của đức Phật A di đà là cứu chữa được 3 loại Căn Cơ khó giáo hóa này. [X. kinh Niết Bàn Q. 10. (bản Nam)].