Mạn Thù

《曼殊》 màn shū

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Mạn Thù. Phạm: Maĩju. Cũng gọi: Mãn nhu, Mạn nhũ. Hán dịch: Diệu. Gọi đủ: Mạn Thù Thất Lợi (Phạm: Maĩjuzrì, Hán dịch: Diệu Cát Tường, Diệu đức). Chỉ cho Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nói trong kinh Duy Ma. Sau khi đức Phật Nhập Diệt, Bồ Tát Mạn Thù Thất Lợi ra đời tại Ấn Độ, tuyên dương giáo nghĩa Đại Thừa. Trong Thai Tạng Giới của Mật giáo, Ngài Thị Hiện hình Đồng Tử, gọi là Mạn Thù Đồng Tử, Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử (Phạm: Maĩjuzrì Kumàrabhùta). [X. Đại tì Lô Giá Na kinh đại nghi quĩ Q.trung]. (xt. Văn Thù Bồ Tát).
II. Mạn Thù (1884-1918). Danh Tăng Trung Quốc, người Hương sơn Quảng đông, nhưng sinh ở Hoành tân, Nhật bản, vốn tên là Tô tiển, tự Tử cốc, sau đổi là Huyền anh, hiệu Mạn Thù. Mẹ tên Nhã tử, người Nhật bản, cha tên là Tô kiệt sinh, 1 thương gia người Trung Quốc. Năm 6 tuổi sư về Lịch khê tại Quảng đông học tiếng Anh, năm 15 tuổi sư học trường Đại Đồng ở Hoành tân, Nhật bản, sau khi tốt nghiệp, sư vào khoa dự bị Cao đẳng của trường Đại học Tảo đạo điền (Wasada) ở Đông kinh, sau lại chuyển đến trường Thành thành, từng tham gia cuộc vận động cách mạng. Sau, sư về Thượng hải, Xuất Gia ở Huệ châu. Từ đó, sư vân du khắp vùng Đông Nam á như: Java, Ấn Độ, Thái lan, Kuala Lumpur. Sư sở trường về thi văn hội họa, tự ví mình như 1 thi nhân. Sư theo Trưởng lão Kiều tất ma học tiếng Phạm, sư từng là dịch sư của hội Phạm học và làm chủ giảng ở Tinh Xá Kì hoàn. Năm Dân quốc thứ 7 (1918) sư tịch ở Thượng hải, hưởng dương 35 tuổi. Sư có các dịch phẩm: Phạm văn điển 8 quyển, Phạm Thư Ma Đa Thể Văn, Sa côn Đa La, Pháp Hiển Phật quốc kí, Huệ sinh sứ tây vực kí địa danh Kim Thích cập lữ trình đồ, Ai cập cổ giáo khảo, Anh dịch yếu tử tiên, Vô đề thi tam bách thủ, Yến tử khám tùy bút; Bái luân thi tuyển, Bi thảm Thế Giới, Văn học Nhân Duyên, Đoạn hồng linh nhạn kí, Phần kiếm kí, Tô Mạn Thù toàn tập. [X. Mạn Thù đại sư toàn tập; Tô Mạn Thù niên phổ cập kì tha].