Lễ Bái

《禮拜》 lǐ bài

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Gọi tắt: Lễ, Bái. Cử chỉ chắp tay cúi đầu bày tỏ ý Cung Kính.Thân Lễ Bái, miệng đọc tụng, xưng niệm, Tán Thán và ý quán xét là 5 Chính Hành đối với Phật. Nhưng nói theo nghĩa rộng, đối tượng Lễ Bái không phải chỉ giới hạn đối với Phật, mà đối với tháp, Trưởng lão, Hòa Thượng, v.v... đều có thể dùng Lễ Bái để biểu tỏ lòng tôn kính. Như kinh Phạm võng quyển hạ bảo: Nếu thấy Thượng tọa, Hòa Thượng, A Xà Lê, người đồng học, Đồng Hành... đều phải nghinh tiếp, Lễ Bái, thăm hỏi. Còn Nam hải kí qui Nội Pháp truyện quyển 4 thì nói: Đức Phật từng dạy các Đệ Tử, phàm khi đứng trước Tam Bảo và các tỉ khưu lớn tuổi đều phải Lễ Bái. Tuy nhiên, phép Lễ Bái không phải lúc nào cũng hợp nghi, mà theo luật, những lúc đại tiểu tiện, ở trần, cạo tóc, Thuyết Pháp, súc miệng, ăn, uống, v.v... đều không được làm lễ. Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng nêu ra năm trường hợp không được làm lễ:
1. Đọc kinh: Khi vị Thượng tọa đang tụng kinh, không được làm lễ.
2. Thượng tọa ở dưới thấp, mình ở trên cao, không được làm lễ.
3. Thượng tọa ở phía trước, mình đi đàng sau, không được làm lễ.
4. Không được ngồi trên tòa ngồi của mình hướng về phía Thượng tọa để làm lễ.
5. Lúc đội mũ, không được lễ Phật. Phép Lễ Bái vốn để bày tỏ ý Cung Kính, vì thế không được mang lòng kiêu ngạo. Theo thiên Trí kính trong Pháp Uyển Châu Lâm quyển 20, thì ngài Lặc Na Ma Đề đời Bắc Ngụy có nêu ra 7 cách lễ như sau.
1. Ngã Mạn kiêu tâm lễ: Lễ Bái với tâm Kiêu Mạn.
2. Xướng họa cầu danh lễ: Lễ Bái để cầu danh.
3. Thân tâm Cung Kính lễ: Lễ Bái với tâm Cung Kính.
4. Phát trí thanh tịnh lễ: Lễ Bái vì mong cầu phát trí tuệ thanh tịnh.
5. Biến Nhập Pháp Giới lễ: Khi tâm của Chúng Sinh và Phật thông nhau mà đạt được lí Pháp Giới, thì lễ 1 đức Phật tức là Lễ Bái tất cả các đức Phật.
1. Chính Quán tu thành lễ: Trong khi lễ Phật thông qua Chính Quán, thì cũng như Lễ Bái tính Phật trong chính mình vậy.
2. Thực tướng Bình Đẳng lễ: Lấy Không làm đối tượng Lễ Bái, đây là nghĩa Lễ Bái mình người không hai. Trong 7 trường hợp Lễ Bái trên, 2 trường hợp đầu được xem là tà lễ, còn trường hợp 5, 6, 7 là chính lễ. Về sau, trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ quyển 27, ngài Trừng quán thêm vào 3 cách lễ nữa là: Đại Bi lễ, Tổng nhiếp lễ và Vô tận lễ, thành là 10 phép lễ. Trong đó, Vô tận lễ là phép lễ cao tột nhất. Như đã trình bày ở trên, chủng loại và nghi thức Lễ Bái tuy nhiều và khác nhau, nhưng nói một cách đại thể, thì trong các cách Lễ Bái được truyền từ Ấn Độ, cách lễ 5 vóc gieo xuống đất (Ngũ Thể Đầu Địa) là trịnh trọng và Cung Kính nhất. Ngoài ra, Lễ Bái Phật, Pháp, Tăng gọi là Tam Bảo Lễ; Lễ Bái 3 thân: Bản Nguyện Thành Tựu, Quang Minh Nhiếp Thủ, Lai nghinh Tiếp Dẫn của đức Phật A di đà, gọi là Tam Thân lễ; Lễ Bái Phật Thích Ca, Phật A di đà, chư Phật 10 phương cho đến tất cả Hiền Thánh, gọi là Thất Kính Lễ. Còn trong Mật Tông, lễ khắp tất cả các đức Phật, gọi là Phổ Lễ; bài Chân Ngôn được tụng khi thực hành Phổ Lễ, gọi là Phổ Lễ Chân Ngôn. [X. phẩm Tà tụ trong kinh Tăng nhất a hàm Q. 27.; Hữu Bộ tì nại da tạp sự Q. 15.; luật Ma Ha Tăng Kì Q. 27., 35; Thiện kiến luật tì Bà Sa Q. 18., môn Lễ tắc trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên]. (xt. Hòa Nam, Lễ).