Lễ
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Lễ Bái, bái. Cử chỉ bày tỏ lòng Cung Kính đối với Phật, Bồ Tát, Tôn giả, Trưởng giả, tháp Phật, v.v... Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 2, tại Ấn Độ có 9 cách Lễ Bái, gọi là Thiên trú cửu nghi:
1. Cất lời thăm hỏi.
2. Cúi đầu tỏ vẻ Cung Kính.
3. Đưa tay lên cao vái chào.
4. Chắp tay cúi chào.
5. Co đầu gối.
6. Quì thẳng.
7. Hai tay và 2 đầu gối đặt sát đất.
8. Hai khuỷu tay, 2 ống chân và trán đều co lại.
9. Hai khuỷu tay, 2 ống chân và trán đều sát đất. Thứ tự của 9 cách lễ trên cho thấy rõ cách Lễ Bái từ khinh đến trọng. Cách lễ quì cũng có nhiều hình thức: 1.Đầu gối bên phải quì sát đất.
2. Đầu gối bên phải sát đất, đầu gối bên trái dựng đứng. Tỉ khưu thường lễ theo cách này.
3. Hai đầu gối quì sát đất, các đầu ngón chân cũng sát đất. Cách lễ này dễ thực hành hơn cách thứ 2 và tỉ khưu ni thường lễ theo cách này.
4. Quì lạy, cách lễ này đơn giản nhất và được người các xứ Tây vực và Ấn Độ quen dùng.
5. Trán, 2 khuỷu tay và 2 đầu gối đều đặt sát đất, đây là cách Lễ Bái biểu lộ lòng tôn kính cao nhất. Ở Ấn Độ, khi Tín Đồ lễ Phật hay tháp Phật, trước hết lễ 1 lễ, sau đó chắp tay đi vòng quanh theo phía bên phải, gọi là Nhiễu Phật (hoặc Hành Đạo), Hữu Nhiễu, Toàn hữu, Toàn táp. Hoặc đi quanh 1 vòng, hoặc 3 vòng. Đi 3 vòng gọi là Hữu Nhiễu Tam Táp(3 vòng quanh bên phải). Ở Trung Quốc thời xưa, trong Thiền Lâm, các sư thường trải tọa cụ để Lễ Bái, gọi là Triển bái. Trải hết tọa cụ và lễ 3 lễ, gọi là Đại Triển Tam Bái; nếu lễ 9 lễ thì gọi là Đại triển Cửu Bái. Chúng tăng đồng loạt trải tọa cụ lễ 3 lễ gọi là Đồng Triển Tam Bái. Nếu không trải tọa cụ mà chỉ gấp tư lại rồi đặt trán lên đó mà lễ thì gọi là Xúc lễ. Ở Ấn Độ thường chỉ lễ 1 lễ, nhưng ở Trung Quốc thì lễ 3 lễ, thậm chí 9 lễ, 18 lễ, 100 lễ... Còn có cách lễ Hòa Nam (Phạm: Vandana), cũng gọi Bà nam, Bàn na mị, Bàn đồ vị. Hán dịch: Lễ, qui lễ. Tức là cách Lễ Bái bày tỏ lòng Cung Kính đối với bậc Trưởng thượng. Cứ theo luật Ma Ha Tăng Kì quyển 27, Hòa nan có 3 hình thức:
1. Thân Lễ Bái.
2. Miệng nói Hòa Nam.
3. Tâm Cung Kính. Trong đó, hình thức thứ 2 là nguyên thủy nhất. Ngoài ra, khi cử người khác đi lễ thay cho mình, thì trước hết mình phải lễ người mình cử đi (tức là gửi lễ), đây gọi là Đại Lễ (lễ thay). [X. phẩm Bất Khả Tư Nghị trong kinh Văn Thù Sư Lợi vấn Q.thượng; kinh Phạm võng Q.hạ; Căn bản Tát Bà Đa Bộ Luật Nhiếp Q. 1.; luận Thập Trụ tì Bà Sa Q. 10.; Thích Thị Yếu Lãm Q.trung; chương Tôn tổ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng]. (xt. Hòa Nam, Lễ Bái).
1. Cất lời thăm hỏi.
2. Cúi đầu tỏ vẻ Cung Kính.
3. Đưa tay lên cao vái chào.
4. Chắp tay cúi chào.
5. Co đầu gối.
6. Quì thẳng.
7. Hai tay và 2 đầu gối đặt sát đất.
8. Hai khuỷu tay, 2 ống chân và trán đều co lại.
9. Hai khuỷu tay, 2 ống chân và trán đều sát đất. Thứ tự của 9 cách lễ trên cho thấy rõ cách Lễ Bái từ khinh đến trọng. Cách lễ quì cũng có nhiều hình thức: 1.Đầu gối bên phải quì sát đất.
2. Đầu gối bên phải sát đất, đầu gối bên trái dựng đứng. Tỉ khưu thường lễ theo cách này.
3. Hai đầu gối quì sát đất, các đầu ngón chân cũng sát đất. Cách lễ này dễ thực hành hơn cách thứ 2 và tỉ khưu ni thường lễ theo cách này.
4. Quì lạy, cách lễ này đơn giản nhất và được người các xứ Tây vực và Ấn Độ quen dùng.
5. Trán, 2 khuỷu tay và 2 đầu gối đều đặt sát đất, đây là cách Lễ Bái biểu lộ lòng tôn kính cao nhất. Ở Ấn Độ, khi Tín Đồ lễ Phật hay tháp Phật, trước hết lễ 1 lễ, sau đó chắp tay đi vòng quanh theo phía bên phải, gọi là Nhiễu Phật (hoặc Hành Đạo), Hữu Nhiễu, Toàn hữu, Toàn táp. Hoặc đi quanh 1 vòng, hoặc 3 vòng. Đi 3 vòng gọi là Hữu Nhiễu Tam Táp(3 vòng quanh bên phải). Ở Trung Quốc thời xưa, trong Thiền Lâm, các sư thường trải tọa cụ để Lễ Bái, gọi là Triển bái. Trải hết tọa cụ và lễ 3 lễ, gọi là Đại Triển Tam Bái; nếu lễ 9 lễ thì gọi là Đại triển Cửu Bái. Chúng tăng đồng loạt trải tọa cụ lễ 3 lễ gọi là Đồng Triển Tam Bái. Nếu không trải tọa cụ mà chỉ gấp tư lại rồi đặt trán lên đó mà lễ thì gọi là Xúc lễ. Ở Ấn Độ thường chỉ lễ 1 lễ, nhưng ở Trung Quốc thì lễ 3 lễ, thậm chí 9 lễ, 18 lễ, 100 lễ... Còn có cách lễ Hòa Nam (Phạm: Vandana), cũng gọi Bà nam, Bàn na mị, Bàn đồ vị. Hán dịch: Lễ, qui lễ. Tức là cách Lễ Bái bày tỏ lòng Cung Kính đối với bậc Trưởng thượng. Cứ theo luật Ma Ha Tăng Kì quyển 27, Hòa nan có 3 hình thức:
1. Thân Lễ Bái.
2. Miệng nói Hòa Nam.
3. Tâm Cung Kính. Trong đó, hình thức thứ 2 là nguyên thủy nhất. Ngoài ra, khi cử người khác đi lễ thay cho mình, thì trước hết mình phải lễ người mình cử đi (tức là gửi lễ), đây gọi là Đại Lễ (lễ thay). [X. phẩm Bất Khả Tư Nghị trong kinh Văn Thù Sư Lợi vấn Q.thượng; kinh Phạm võng Q.hạ; Căn bản Tát Bà Đa Bộ Luật Nhiếp Q. 1.; luận Thập Trụ tì Bà Sa Q. 10.; Thích Thị Yếu Lãm Q.trung; chương Tôn tổ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng]. (xt. Hòa Nam, Lễ Bái).