Hòa Thượng

《和上》 hé shàng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: upādhyāya, Pāli: upajjhāya 、: chỉ bậc Xuất Gia đức độ cao cả; còn gọi là Hòa Xà (), Hòa Xã (), Cốt Xã (), Ô Xã (), Ô Ba Đà Da (), Ô Ba Địa Da (), Ưu Ba Đà Ha (), Úc Ba Đệ Da Dạ (), Phật Đà (). Ý dịch là Thân Giáo Sư (), Lực Sanh (), Cận Tụng (), Y Học (), Đại Chúng Chi Sư (). Hòa Thượng là bậc thầy mô phạm của người thọ giới, cho nên các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ, v.v., đều gọi là Giới Hòa Thượng (). Về sau, Hòa Thượng trở Thành Tôn xưng của trò đối với bậc thầy. Cưu Ma La Thập (Sanskrit: Kumārajīva, , 344-413) dịch là Lực Sanh, ý chỉ rằng Đệ Tử nương vào thầy mà sanh Đạo Lực, nhưng nghĩa này không được lưu truyền rộng rãi. Trong giai vị Tăng Quan của Phật Giáo Nhật Bản có chức vị Hòa Thượng, Đại Hòa Thượng. Đặc biệt, vị trú trì của một chùa nào đó cũng được gọi là Oshō-sama (, Hòa Thượng Dạng), hay Oshō-san (さん) mang Nghĩa Thông tục. Đại Trí Độ Luận () quyển 13 cho biết rằng: “Vân hà Sa Di, Sa Di Ni Xuất Gia thọ Giới Pháp ? Bạch Y lai Dục Cầu Xuất Gia, ưng cầu Nhị Sư, nhất Hòa Thượng, nhất A Xà Lê; Hòa Thượng như phụ, A Xà Lê như mẫu; dĩ khí bổn sanh phụ mẫu, đương cầu Xuất Gia phụ mẫu. Trước Ca Sa, thế trừ tu phát, ưng lưỡng thủ tróc Hòa Thượng lưỡng túc. Hà dĩ tróc túc ? Thiên Trúc pháp dĩ tróc túc vi đệ nhất Cung Kính cúng dường (, Thế nào là Sa Di, Sa Di Ni Xuất Gia thọ Giới Pháp ? Hàng Bạch Y đến muốn cầu xuát gia, nên cầu hai vị thầy: một là Hòa Thượng, một là A Xà Lê; Hòa Thượng như cha, A Xà Lê như mẹ; để bỏ đi cha mẹ sanh minh ra, nên cầu cha mẹ Xuất Gia. Mang y Ca Sa, cạo bỏ râu tóc, nên lấy hai tay nắm chặt hai chân của Hòa Thượng. Vì sao vậy ? Pháp tắc của Ấn Độ cho rằng nắm chặt chân là Cung Kính cúng dường số một).”