Giới Đàn

《戒壇》 jiè tán

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: là Đàn Tràng dùng để cử Hành Nghi thức truyền thọ Giới Pháp cũng Như Thuyết giới. Nguyên Lai, Giới Đàn không cần phải xây dựng nhà cửa gì cả, tùy theo chỗ đất trống Kết Giới mà thành. Xưa kia, thời cổ đại Ấn Độ Tác Pháp ngoài trời, không cần phải làm đàn. Về việc Giới Đàn được kiến lập đầu tiên, Thích Thị Yếu Lãm (, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Thượng, có ghi lại rằng Bồ Tát Lâu Chí () thỉnh ý đức Phật xin thiết lập Giới Đàn cho chư vị Tỳ Kheo thọ giới và được Ngài hoan hỷ chấp thuận: “Tây Thiên Kỳ Viên, Tỳ Kheo Lâu Chí thỉnh Phật lập đàn, vi Tỳ Kheo thọ giới Như Lai ư viên ngoại viện Đông Nam, trí nhất đàn, thử vi thỉ dã (西, Kỳ Viên ở Tây Thiên [Ấn Độ], Tỳ Kheo Lâu Chí xin Phật thiết lập Giới Đàn để truyền thọ giới cho Tỳ Kheo; đức Như Lai thiết lập một đàn ở phía Đông Nam ngoài Kỳ Viên; đây là khởi đầu).” Tại Trung Quốc, tương truyền Giới Đàn đầu tiên do Đàm Kha Ca La (Sanskrit: Dharmakāla, ) kiến lập trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Bình (, 249-254), Chánh Nguyên (, 254-256) nhà Tào Ngụy. Từ thời nhà Tấn, Tống trở đi, ở phương Nam kiến lập Giới Đàn rất nhiều. Như Pháp Hộ () nhà Đông Tấn lập đàn ở Ngõa Quan Tự (), Dương Đô (, Nam Kinh []). Chi Đạo Lâm (, 314-366) cũng thiết lập ở Thạch Thành (, Lê Thành [], Sơn Tây [西]), Phần Châu (, Tân Xương [], Triết Giang []) mỗi nơi một đàn. Chi Pháp Tồn (, ?-457) lập đàn ở Nhã Da (, Thiệu Hưng [], Triết Giang). Trí Nghiêm () nhà Nam Tống lập đàn ở Thượng Định Lâm Tự (, Nam Kinh). Huệ Quán () lập đàn ở Thạch Lương Tự (, Thiên Thai Sơn []). Cầu Na Bạt Ma (Sanskrit: Guṇavarman, , 367-431) lập đàn ở Nam Lâm Tự (). Tăng Phu (, ?-?) của nhà Nam Tề lập đàn ở Vu Hồ (). Pháp Siêu () của nhà Lương thời Nam Triều lập đàn ở Nam Giản (, Nam Kinh). Tăng Hựu (, 445-518) thiết lập tại Nam Kinh 4 chùa Vân Cư (), Thê Hà (), Quy Thiện () và Ái Kính () mỗi nơi một đàn. Tổng cọng hơn 300 Giới Đàn. Đến thời nhà Đường, vào năm thứ 2 (667) niên hiệu Càn Phong (), Luật Sư Đạo Tuyên (, 596-667) kiến lập Giới Đàn tại Tịnh Nghiệp Tự () ở ngoại ô Trường An (). Bắt đầu từ thời này, Giới Đàn đã hình thành quy thức nhất định. Về sau, chư Cao Tăng khác như Nghĩa Tịnh (, 635-713), Nhất Hành (, 683-727), Kim Cang Trí (, 671-741), v.v., từng kiến lập Giới Đàn ở vùng phụ cận Lạc Dương (). Vào năm đầu (765) niên hiệu Vĩnh Thái (), vua Đại Tông (, tại vị 762-779) ban sắc lệnh kiến lập Phương Đẳng Giới Đàn (, tức Đại Thừa Giới Đàn)Đại Hưng Thiện Tự (); rồi cho đặt 10 vị Lâm Đàn Đại Đức () trong giáo đoàn Tăng Ni ở Kinh Thành; tức sau này là Tam Sư Thất Chứng (). Về phía Nhật Bản, Giới Đàn đầu tiên do Giám Chơn (, Ganjin, 688-763) kiến lập ở phía trước Chánh Điện Đông Đại Tự (, Tōdai-ji) vào năm 749 (Thiên Bình Thắng Bảo [] thứ 6). Đến tháng 4 năm này, Giám Chơn đã truyền giới cho Thánh Võ Thiên Hoàng (, Shōmu Tennō, tại vị 724-749) cùng với 430 người khác. Sau đó, Giới Đàn Viện () được kiến lập ở Đông Đại Tự (, Tōdai-ji); và hai Giới Đàn khác ở Quan Thế Âm Tự (, Kanzeon-ji), vùng Trúc Tử (, Chikushi)Dược Sư Tự (, Yakushi-ji) thuộc tiểu quốc Hạ Dã (, Shimotsuke). Trong (Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành) Thích Giáo Bộ Vị Khảo ([], Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1521) quyển 2 có câu: “Trường Khánh tứ niên, Kính Tông tức vị, Từ Tứ Vương Trí Hưng, thỉnh trí Tăng Ni Giới Đàn (, niên hiệu Trường Khánh thứ 4 [824], vua Kính Tông nhà Đường lên ngôi, Từ Tứ Vương Trí Hưng, xin thiết trí Giới Đàn Tăng Ni).” Hay trong Chung Nam Gia Nghiệp (, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1109) quyển Trung có đoạn rằng: “Chí Nguyên Hỷ thập niên, hữu Tăng Già Bạt Ma, ư Dương Đô Nam Lâm Giới Đàn, vi Tăng Huệ Chiếu đẳng ngũ thập nhân, Ni Huệ Quả đẳng tam thập tam nhân, trùng thọ cụ giới (, cho đến niên hiệu Nguyên Hỷ thứ 10, tại Giới Đàn Chùa Nam Lâm ở Dương Đô, có Tăng Già Bạt Ma vì nhóm Tăng Huệ Chiếu 50 người, nhóm Ni Huệ Quả 33 người, thọ giới Cụ Túc lại).”