Giới Pháp

《戒法》 jiè fǎ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chỉ chung cho luật pháp do đức Phật chế ra, cũng là quỹ phạm của Chúng Sanh. Phàm 5 giới, 8 giới, 10 giới, Cụ Túc Giới (), Tam Tụ Tịnh Giới (), 10 giới trọng, 48 giới khinh, v.v., được gọi là Giới Pháp; sau đó chỉ chung cho giới luật. Giới là căn bản của Thánh Đạo, nhờ nương vào giới này, sanh Thiền định và trí tuệ diệt khổ; được miễn khỏi bị chìm đắm trong biển Sanh Tử Luân Hồi, nên được gọi là một trong những con đường tắt dẫn đến giải thoát. Trong tác phẩm Sự Vật Kỷ Nguyên (), chương Đạo Thích Khoa Giáo (), Giới Đàn (), của Cao Thừa (, ?-?) nhà Tống, cho biết rằng: “Hán Ngụy chi tăng, tuy thế nhiễm nhi Giới Pháp vị bị, duy thọ Tam Quy (, tăng sĩ thời nhà Hán và Ngụy, tuy Xuất GiaGiới Pháp chưa đủ, chỉ thọ Tam Quy thôi).” Hay trong Lược Thọ Tam Quy Ngũ Bát Giới Tinh Bồ Tát Giới (, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1087) cũng khẳng định rằng: “Phù Giới Pháp giả, nãi thị Thành Phật chi nguyên, chứng Thánh chi bản (, phàm Giới Pháp chính là nguồn để Thành Phật, là gốc để chứng Thánh).” Hoặc trong Ngũ Dăng Hội Nguyên (, Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 1, phần Thập Tam Tổ Ca Tỳ La Tôn Giả (), lại có đoạn: “Khởi sân hận tưởng, mạng chung đọa vi mãng thân, trú thị quật trung, kim dĩ thiên tải, thích ngộ tôn giả, hoạch văn Giới Pháp, cố lai tạ nhĩ (, do khởi tưởng sân hận, khi mạng hết đọa làm thân con trăn, sống trong động này, nay đã ngàn năm, may gặp tôn giả, được nghe Giới Pháp, nên đến tạ người).”