Duy Ma Kinh

《維摩經》 wéi mó jīng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tranh Duy Ma Biến Tướng Phạm: Vimalakìrti-nirdeza. Gồm 3 quyển, 14 phẩm, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần, đưa vào Đại chính tạng tập 14. Cũng gọi Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, Duy Ma cật kinh. Mục đích kinh này là nói rõ Pháp Môn giải thoát Bất Khả Tư Nghị mà ngài Duy Ma đã chứng được, cho nên còn gọi là kinh Bất Khả Tư Nghị giải thoát. Nhân vật chính trong kinh này là Cư Sĩ Duy Ma, một trưởng giả ở thành Tì xá li trung Ấn Độ ở thời Đại Đức Phật. Thuở ấy, đức Phật đang ở thành Tì xá li, các con của 500 Trưởng giả đến chỗ đức Phật, xin ngài nói pháp. Lúc đó, Cư Sĩ Duy Ma bị bệnh, đức Phật sai các vị tỉ khưu và Bồ Tát đến thăm bệnh, nhân dịp này, Cư Sĩ Duy Ma bàn luận sâu rộng về Phật Pháp với Bồ Tát Văn thù và các vị cùng đi, nhân đó mà thành kinh này. Kinh Duy Ma được đặt trên nền tảng tư tưởng không của Bát Nhã, xiển dương đạo thực tiễn của Bồ Tát Đại Thừa, nói rõ các đức mục tôn giáo mà các Tín Đồ Tại Gia phải tu hành. Toàn bộ kinh lấy Cư Sĩ Duy Ma làm nhân vật trung tâm, xuyên qua phương thức bàn luận về Phật Pháp giữa ngài và Bồ Tát Văn thù để tuyên dương Chân Lí của Phật giáo Đại Thừa. Kinh này được thành lập vào khoảng thế kỉ thứ nhất Tây lịch, sau kinh Bát Nhã, là một trong những Kinh Điển Đại Thừa ở thời kì đầu. Ở Ấn Độ, kinh này rất thịnh hành và thường được trích dẫn trong các bộ luận như: Đại trí độ v.v... Tại Trung Quốc kinh này còn được truyền dịch, tụng trì rộng rãi hơn. Cứ theo các bản ghi chép về Kinh Điển qua các thời đại, thì kinh Duy Ma có tất cả bảy bản Hán dịch, hiện chỉ còn ba bản.Ngoại trừ bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập còn có:
1. Kinh Duy Ma cật, gồm 2 quyển hoặc 3 quyển, do ngài Chi Khiêm dịch ở nước Ngô vào thời Tam Quốc (Ngụy, Thục, Ngô). Cũng gọi: Kinh Duy Ma cật sở thuyết Bất Khả Tư Nghị Pháp Môn, kinh Phổ Nhập Đạo môn, kinh Phật Pháp phổ Nhập Đạo môn, kinh Phật Pháp phổ Nhập Đạo môn Tam Muội, kinh Duy Ma. Thu vào Đại chính tạng tập 14, là bản Hán dịch xưa nhất hiện còn.2. Kinh Vô cấu xưng, gồm 6 quyển, do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi kinh Thuyết vô cấu xưng, thu vào Đại chính tạng tập 14. Trong ba bản dịch hiện còn, về cách kết cấu văn kinh và nghĩa lý đại khái giống nhau, nhưng cũng có một vài chỗ sai khác: Chẳng hạn như bài kệ Tán Phật trong phẩm thứ nhất, bản dịch của ngài Chi Khiêm là 10 bài tụng, bản của ngài La thập là 18 bài, bản của ngài Huyền Trang là 19 bài rưỡi. Nếu bàn về mức độ Phiên Dịch chính xác thì bản của ngài Huyền Trang phải được đặt lên hàng đầu; còn nếu nói về văn dịch khéo léo, nhuần nhuyễn thì phải nhường cho bản của ngài La thập, ngòi bút dịch của ngài rất lưu loát đẹp đẽ, xưa nay được coi là tác phẩm nghệ thuật ưu tú trong văn học kinh Phật và được Lưu Thông rất rộng rãi. Kinh này còn có bản dịch Tây tạng được đưa vào trong Kinh Tập Phật Thuyết bộ của Đại Tạng Kinh Tây tạng. Ngoài ra, có bản dịch tiếng Mãn châu và tiếng Mông cổ dịch theo bản dịch Tây tạng. Những bản chú thích trọng yếu của kinh này có: Duy Ma nghĩa kí của ngài Tuệ viễn (đời Tùy), Duy Ma Kinh Huyền Sớ của ngài Trí Khải, Duy Ma Kinh Nghĩa Sớ của ngài Cát Tạng, Duy Ma Kinh huyền luận cũng của ngài Cát Tạng. [X. Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục, Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Kỉ Q. 3.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 4.; Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục Q. 1.].