Độc Tử Bộ

《犢子部》 dú zi bù

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Vātsī-putrīyāḥ Pàli: Vajji-puttaka. Dịch âm: Bạt tư phất để lê dữ bộ, Bạt tư phất Đa La bộ, Bà Sa đố lộ bộ, Bà Sa phú la bộ, Bà thô phú la bộ, Bà Sa phú Đa La bộ, Bạt tư phất bộ, Bà Sa bộ. Cũng gọi: Bạt thứ tử bộ, Bạt tư phất Đa La khả trụ tử bộ; Khả trụ tử Đệ Tử bộ, Bà thư tử bộ. Là một trong 20 bộ phái của Tiểu Thừa. Về sự phân phái của bộ này có nhiều thuyết khác nhau. Theo Dị Bộ Tông Luân Luận, thì bộ này từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ mà chia ra vào khoảng 300 năm sau đức Phật Nhập Diệt. Kinh Xá Lợi Phất vấn và Đảo Sử Nam truyền thì nói từ Thượng Tọa Bộ chia ra. Còn Phật giáo Nam truyền cho rằng niên đại phân phái ở vào khoảng 200 năm sau đức Phật Nhập Diệt. Về tên gọi và bộ chủ cũng có các thuyết bất đồng. Theo thuyết của ngài Chân Đế được nêu trong Tam Luận Huyền Nghĩa thì đời xưa có một vị tiên tên là Khả trụ, trong hàng con cháu vị tiên này có A La Hán Khả trụ tử, nay bộ phái này do Đệ Tử của ngài Khả trụ tử Đề Xướng, nên gọi là Khả trụ tử Đệ Tử bộ. Theo Dị Bộ Tông Luân Luận Thuật Kí thì đời thượng cổ có một người tiên chưa hết Tham Dục, làm dâm với con bò cái và sinh con, từ đó về sau giòng họ của người tiên ấy được gọi là Độc tử (bò con, con bê), là một trong các họ của Bà La Môn. Thời Phật tại thế có Ngoại Đạo giòng Độc tử quy y theo Phật Xuất Gia, Môn Đồ của người này tiếp nối truyền thừa cho nhau không dứt; cho nên, đến đời Phật giáo nguyên thủy bị chia ra thành các bộ phái, thì phái Độc tử cũng tách ra làm một bộ riêng gọi là Độc Tử Bộ. Câu xá luận quang kí quyển 30 cũng cho rằng bộ chủ của bộ phái này là giòng dõi của Ngoại Đạo Độc tử thời Phật tại thế. Bởi vì sự khác nhau giữa hai dịch ngữ: Khả trụ tử và Độc tử là do sự bất đồng trong âm Phạm mà ra, âm dài của Phạm Ngữ này là Khả trụ, còn âm ngắn là Độc. Nếu căn cứ theo Câu Xá Luận Sớ bằng tiếng Phạm của ngài Xứng hữu và Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập, v.v..., nếu dịch tên Phạm Vatsì là Khả trụ thì sai mà phải dịch là Độc mới đúng. Ngoài ra, theo sự nghiên cứu của nhà học giả Nhật bản là ông Xích chiểu Trí thiện, thì các sư thuộc bộ phái này là những vị tỉ khưu của nước Phiệt sa (Phạm: Vatsa, một trong 16 nước lớn thời bấy giờ), vì thế tên Phạm của bộ này mới là Vatsì-putriyà (ý nói Đệ Tử ở nước Phiệt sa). Còn tên Pàli của bộ phái này là Vajjiputtakacó lẽ đã do lẫn lộn Vatsa với Bạt kì (Pàli: Vajji) trong lần Kết Tập Kinh Điển thứ 2 mà ra. Theo thuyết của ngài Chân Đế, bộ phái này thuộc pháp hệ của tôn giả Xá Lợi Phất, cho rằng ngài Xá Lợi Phất soạn luận A tì đàm, Đệ Tử của ngài là La Hầu La truyền bá rộng rãi, Khả trụ tử lại bàn rõ thêm về thuyết của ngài La Hầu La. Về giáo nghĩa, bộ phái này chia tất cả sự vật làm năm tạng: Quá Khứ, vị lai, hiện tại, Vô ViBất Khả Thuyết, thừa nhận năm tạng này đều thật có, đặc biệt chủ trương có Bổ Đặc Già La (ngã), gọi Bổ Đặc Già LaBất Khả Thuyết; cho rằng Bổ Đặc Già La này và năm uẩn là bất tức, bất li (phi tức phi li– chẳng phải uẩn cũng chẳng lìa uẩn). Tức là thừa nhận có chủ thể Sinh Tử Luân hồi. Xưa nay có nhiều thuyết bác bỏ thuyết Bổ Đặc Già La có thực và chê Độc Tử BộNgoại Đạo bám vào Phật Pháp; nhưng về sau Phật giáo phát triển, giáo nghĩa Đại Thừa lập thuyết Như Lai Tạng chưa hẳn đã không dính dáng gì đến tư tưởng Bổ Đặc Già La này. Cứ theo Dị Bộ Tông Luận, thì về sau từ bộ này lại chia ra bốn bộ phái nữa là: Pháp Thượng, Hiền trụ, Chính lượng và Mật lâm sơn. Nguyên Nhân là vì trong lúc giải thích một bài kệ, mọi người đã có những ý kiến khác nhau mà đưa đến sự phân phái. Bài kệ ấy là (Đại 49, 16 hạ): Dĩ giải thoát cánh đọa, Đọa do tham phục hoàn; Hoạch an hỉ sở lạc, Tùy lạc hành chí lạc. [X. phẩm Phân bộ trong kinh Văn thù vấn Q.hạ; luận Đại tì Bà Sa Q. 2., Q. 11.; luận Đại trí độ Q. 2., Q10; luận Bộ chấp dị; luận Thập Bát Bộ; Trung Luận Q. 2.; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 3.; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 1.]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Ấn Độ Phật Giáo).