Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh

《地藏菩薩本願經》 dì zàng pú sà běn yuàn jīng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh (), Địa Tạng Bổn Hạnh Kinh (), Địa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh (); gọi tắt là Địa Tạng Kinh (). Đây là Kinh Điển quan trọng tán dương Nguyện Lực cao cả, vĩ đại của Bồ Tát Địa Tạng (Sanskrit: Kṣitigarbha, ) như có đề cập trong kinh là: “Địa Ngục vị không thệ bất Thành Phật, Chúng Sanh độ tận phương chứng Bồ Đề (, Địa Ngục chưa hết thề không Thành Phật, Chúng Sanh độ sạch mới chứng Bồ Đề).” Kinh được thâu lục vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (, Taishō Vol. 13, No. 412). Do vì nguyên lưu của kinh không được rõ ràng, sau khi được thâu lục vào Đại Tạng Kinh dưới thời nhà Minh (, 1368-1662), học giả Phật Giáo hoài nghi rằng có bộ phận của kinh không phải do được truyền nhập từ Ấn Độ vào, mà do chế tác tại Trung Quốc. Về dịch giả, phần đầu kinh có ghi là “Đường Vu Điền Quốc Tam Tạng Sa Môn Thật Xoa Nan Đà dịch (, Tam Tạng Sa Môn Thật Xoa Nan Đà [s: Śikṣānanda, 529-645, tức Giới Hiền] của nước Vu Điền nhà Đường dịch).” Nhưng bản nhà Minh thì lại ghi là Pháp Đăng (), Pháp Cự () dịch. Trên thực tế, dịch giả và niên đại Dịch Kinh này vẫn chưa xác định rõ. Như trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục (, Taishō Vol. 55, No. 2154) do Trí Thăng () của Sùng Phước Tự () nhà Đường, cũng như Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (, Taishō Vol. 55, No. 2157) do Sa Môn Viên Chiếu ()Tây Minh Tự (西), Tây Kinh (西) biên soạn, cho biết rằng Thật Xoa Nan Đà dịch được 19 bộ Kinh Điển, nhưng lại không thấy đề cập đến bộ kinh Địa Tạng này. Đại Sư Vân Thê Châu Hoằng (, 1535-1615) nhà Minh lại y cứ vào lời Bạt Đầu kinh mà cho là Thật Xoa Nan Đà dịch. Tuy nhiên, đại đa số các bản Lưu Thông thời nhà Minh lại ghi là do Pháp ĐăngPháp Cự dịch. Trong khi đó, hai nhân vật này không rõ thuộc thời đại nào. Tại Việt Nam, bản thông dụng do Hòa Thượng Thích Trí Tịnh Việt dịch cũng căn cứ vào bản Hán dịch của Pháp Sư Pháp Đăng. Kinh này được đề cập đến đầu tiên trong Địa Tạng Bồ Tát Tượng Linh Nghiệm(, Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1638), tác phẩm được thâu tập vào khoảng niên hiệu Đoan Củng (, 988-989) nhà Bắc Tống, do Sa Môn Truyền Giáo Thường Cẩn () ghi lời tựa vào năm Kỷ Sửu (989) cùng niên hiệu trên. Bản này có trích dẫn nội dung của Phẩm Phân Thân Công Đức () và cho biết rằng Phạn bản của kinh được Sa Môn Trí Hựu () của Tây Ấn Độ mang đến Thanh Thái Tự (), Trung Quốc vào khoảng niên hiệu Thiên Phước (, 936-948) của vua Cao Tổ Thạch Kính Đường (, tại vị 936-942) nhà Hậu Tấn, thời Ngũ Đại. Thêm vào đó, tác phẩm Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục (, Taishō Vol. 51, No. 2084) do Thích Phi Trọc () thâu lục, cũng có đề cập đến nội dung của Phẩm Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông (), từ đó mới biết được rằng kinh này đã được lưu hành dưới thời Bắc Tống. Gần đây, tại Tây Hạ, người ta có phát hiện bản văn tiếng Tây Hạ của Địa Tạng Kinh Tàn Bản, và đây cũng là chứng cứ cho biết rằng trước thời nhà Tống, Kinh Địa Tạng đã được truyền vào Nhật Bản rồi. Về nội dung, kinh được hình thành bởi 13 phẩm chính: (1) Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông Phẩm (), (2) Phân Thân Tập Hội Phẩm (), (3) Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên Phẩm (), (4) Diêm Phù Chúng Sanh Nghiệp Cảm Phẩm (), (5) Địa Ngục Danh Hiệu Phẩm (), (6) Như Lai Tán Thán Phẩm (), (7) Lợi Ích Tồn Vong Phẩm (), (8) Diêm La Vương Chúng Tán Thán Phẩm (), (9) Xưng Phật Danh Hiệu Phẩm (), (10) Giảo Lượng Bố Thí Công Đức Duyên Phẩm (), (11) Địa Thần Hộ Pháp Phẩm (), (12) Kiến Văn Lợi Ích Phẩm ()(13) Chúc Lụy Nhân Thiên Phẩm (). Các bản chú giải liên quan đến kinh có Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Khoa Văn (, Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 382), 1 quyển, của Tần Khê Thanh Liên Đại Sư (谿); Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú (, Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 384), 6 quyển, của Thanh Liên Bí Sô Linh Thừa () ở Cổ Diêm Khuông Am (); Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Luân Quán (, Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 383), 1 quyển, cũng do Thanh Liên Bí Sô Linh Thừa soạn, v.v. Đối với Tín Ngưỡng dân gian, Kinh Địa Tạng đóng vai trò quan trọng trong việc cầu Siêu Độ cho những vong linh thân nhân quá vãng. Cho nên, tại Việt Nam, vào dịp Lễ Vu Lan, Lễ Chung Thất Trai Tuần, lễ Húy Nhật, Đại Trai Đàn Chẩn Tế, v.v., kinh này được trì tụng rất phổ biến.