Đại Nhật Kinh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Mahà-vairocanàbhisaôbodhi- Vikurvitàbhiwỉhàna- Vaipulyasùtrendra-vàjanàma-dharmaparyàya, gồm 7 quyển, do các ngài Thiện Vô Úy, Nhất hạnh, Bảo nguyệt cùng dịch vào đời Đường. Cũng gọi Tì Lô Giá Na Thành Phật kinh, Đại tì Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì kinh, Đại tì Lô Giá Na kinh. Một trong ba bộ kinh Chân Ngôn, là kinh căn bản của Thai Tạng Giới trong Mật giáo, cùng với kinh Kim Cương đính đều là Thánh Điển y cứ của Đông Mật và Thai Mật Nhật bản. Được thu vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này do đức Thế Tôn Đại nhật thuyết giảng ở cung Kim Cương Pháp Giới, nội dung lấy Mạn Đồ La Bản Hữu Bản Giác làm yếu chỉ, mục đích chỉ bày tâm Bồ Đề thanh tịnh có sẵn trong tất cả Chúng Sinh, đồng thời, tuyên giảng Phương Tiện Tam Mật (Thân Mật, Ngữ Mật, ý mật). Kinh này có 36 phẩm. Toàn kinh lấy chữ A vốn chẳng sinh làm Tông Chỉ, lấy Tất Địa Vô Tướng làm mục đích. Trong 36 phẩm thì 31 phẩm trước là phần chủ thể của kinh, 5 phẩm còn lại là thuộc pháp cúng dường. Trong 31 phẩm trước, phẩm Nhập Chân Ngôn thứ 1 là phẩm tựa, cũng là phẩm then chốt của kinh. Phẩm này nói rõ giáo nghĩa (giáo tướng) cơ bản của Mật giáo, trong đó, ba câu: Tâm Bồ Đề là nhân, Đại Bi là căn, Phương Tiện là Cứu Cánh đã nói lên Tông Chỉ của toàn kinh. Từ phẩm Nhập Mạn Đồ La cụ duyên Chân Ngôn thứ 2 đến phẩm Chúc Lụy thứ 31 là trình bày các nghi quĩ, Hành Pháp (Sự Tướng) của Mật giáo. Từ phẩm 32 đến phẩm 36 thuyết minh thứ tự của các pháp cúng dường. Cứ theo Đại Nhật Kinh Khai Đề nói, thì kinh này có ba bản:
1. Pháp Nhĩ thường hằng: Chư tôn dùng Tâm Vương, Tâm Sở diễn nói Pháp Môn Tự Nội Chứng.
2. Phân lưu quảng: Bản này gồm 10 vạn bài tụng, do Bồ Tát Long mãnh vào tháp sắt ở Nam Thiên Trúc nghe ngài Kim Cương tát đỏa tụng truyền.
3. Phân sơ lược: Bản 7 quyển hiện nay lưu truyền, gồm hơn 3.000 bài tụng là toát yếu từ 10 vạn bài tụng. Cứ theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 9 nói, thì bản tiếng Phạm của kinh này là do Sa Môn Vô hành đem từ Thiên Trúc về, bấy giờ cất giữ ở chùa Hoa nghiêm tại Trường an. Sau, ngài Tam Tạng Thiện Vô Úy và Thiền Sư Nhất hạnh đến chùa này, chọn lấy Bản Sơ lược Đại Nhật Kinh gồm 3.000 bài tụng và phụng chiếu dịch ra chữ Hán ở chùa Phúc tiên tại Trường an vào năm Khai nguyên 12 (724). Kinh này cũng có bản dịch tiếng Tây tạng, gồm 36 phẩm, nhưng sự sắp xếp thứ tự chương, phẩm có hơi khác với bản Hán dịch. Như trong tạng kinh Tây tạng, quyển 7 không được xếp vào loại kinh mà đưa vào bộ Luận sớ để trong Cam Châu Nhĩ bộ, rồi thêm vào những 7 phẩm như phẩm Tịch Tĩnh Hộ Ma nghi quĩ (gọi là Ngoại thiên) v.v... Bản dịch Tây tạng muộn hơn bản Hán dịch 30 năm. Về phần chú sớ của kinh này thì có các bộ: -Đại tì Lô Giá Na Thành Phật kinh sớ 20 quyển. -Đại tì Lô Giá Na Thành Phật kinh Nghĩa Thích 14 quyển. Hai bộ sớ trên đây đều do ngài Nhất hạnh soạn, để giải thích văn nghĩa trong 6 quyển trước của kinh Đại nhật. Ngoài ra còn có:Đạitì Lô Giá Na cúng dường Thứ Đệ pháp sớ2 quyển, do ngài Bất Khả Tư Nghị soạn, để chú giải quyển thứ
7. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q. 1.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 12.; Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục Q. 14.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 5.; Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện Q.hạ Pháp Lâm truyện]. (xt. Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích).
1. Pháp Nhĩ thường hằng: Chư tôn dùng Tâm Vương, Tâm Sở diễn nói Pháp Môn Tự Nội Chứng.
2. Phân lưu quảng: Bản này gồm 10 vạn bài tụng, do Bồ Tát Long mãnh vào tháp sắt ở Nam Thiên Trúc nghe ngài Kim Cương tát đỏa tụng truyền.
3. Phân sơ lược: Bản 7 quyển hiện nay lưu truyền, gồm hơn 3.000 bài tụng là toát yếu từ 10 vạn bài tụng. Cứ theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 9 nói, thì bản tiếng Phạm của kinh này là do Sa Môn Vô hành đem từ Thiên Trúc về, bấy giờ cất giữ ở chùa Hoa nghiêm tại Trường an. Sau, ngài Tam Tạng Thiện Vô Úy và Thiền Sư Nhất hạnh đến chùa này, chọn lấy Bản Sơ lược Đại Nhật Kinh gồm 3.000 bài tụng và phụng chiếu dịch ra chữ Hán ở chùa Phúc tiên tại Trường an vào năm Khai nguyên 12 (724). Kinh này cũng có bản dịch tiếng Tây tạng, gồm 36 phẩm, nhưng sự sắp xếp thứ tự chương, phẩm có hơi khác với bản Hán dịch. Như trong tạng kinh Tây tạng, quyển 7 không được xếp vào loại kinh mà đưa vào bộ Luận sớ để trong Cam Châu Nhĩ bộ, rồi thêm vào những 7 phẩm như phẩm Tịch Tĩnh Hộ Ma nghi quĩ (gọi là Ngoại thiên) v.v... Bản dịch Tây tạng muộn hơn bản Hán dịch 30 năm. Về phần chú sớ của kinh này thì có các bộ: -Đại tì Lô Giá Na Thành Phật kinh sớ 20 quyển. -Đại tì Lô Giá Na Thành Phật kinh Nghĩa Thích 14 quyển. Hai bộ sớ trên đây đều do ngài Nhất hạnh soạn, để giải thích văn nghĩa trong 6 quyển trước của kinh Đại nhật. Ngoài ra còn có:Đạitì Lô Giá Na cúng dường Thứ Đệ pháp sớ2 quyển, do ngài Bất Khả Tư Nghị soạn, để chú giải quyển thứ
7. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q. 1.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 12.; Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục Q. 14.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 5.; Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện Q.hạ Pháp Lâm truyện]. (xt. Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích).