Đại Bảo Tích Kinh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Mahā-ratnakūṭa-sūtra. Gồm 120 quyển. Cũng gọi Bảo tích kinh, do các ngài Bồ Đề Lưu Chi v.v... dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 11. Bộ kinh này do biên chép thu tập các pháp tu hành của Bồ Tát và Thụ Kí Thành Phật trong các kinh mà thành. Bảo tích hàm ý là tích tập Pháp Bảo. Vì các pháp Đại Thừa rất sâu xa mầu nhiệm nên gọi là Bảo (quí báu); chứa nhóm vô lượng Pháp Môn nên gọi là Tích (chứa nhóm). Kinh này là bản tổng hợp của Tân Dịch (dịch mới) và Cựu Dịch (dịch cũ) gồm 49 hội (bộ), trong đó, các nhà Dịch Kinh vào các đời Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, Tùy, Đường lần lượt dịch vào các kinh khác nhau, được tất cả 23 hội, hơn 80 quyển, gọi là Cựu Dịch. Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch 26 hội, 39 quyển rưỡi, gọi là Tân Dịch. Nội dung toàn kinh bàn chung về các Pháp Môn chủ yếu của Phật giáo Đại Thừa, phạm vi rất rộng. Mỗi một hội có chủ đề độc lập và tương đương một bộ kinh; chẳng hạn như hội thứ 46 là Văn thù thuyết Bát Nhã hội chủ yếu bàn về tư tưởng Bát Nhã tính không. Hội thứ 5 là Vô lượng thọ Như Lai hội nói về Tín Ngưỡng Di đà Tịnh Độ. Còn như các hội thứ 2, 3, 7, 11, 24 v.v... thì nêu rõ các giáo nghĩa trọng yếu của Mật giáo. Ngoài ra, các bộ phái mà các hội sở thuộc được nói đến trong kinh này rất lộn xộn, như: - Hội 14 Phật Thuyết nhập thai thuộc về Tiểu Thừa bộ. - Hội 1 Tam luật nghi. - Hội 23 Ma Ha Ca Diếp (thuộc về Luật bộ). - Hội 46 Văn thù thuyết Bát Nhã thuộc về Bát Nhã Bộ. - Hội 47 Bảo kế Bồ Tát thuộc về Đại Tập Bộ v.v... Như vậy, có thể nói, mỗi hội tuy có đặc sắc, nhưng đứng về phương diện chỉnh thể của toàn bộ kinh mà nhận xét, thì thiếu mất hệ thống nhất quán. Kinh này có rất nhiều bản dịch khác nhau. Để tiện việc so sánh, nay đem tên hội, số quyển người dịch trình bày bằng các đồ biểu như sau: Ngoài 49 hội kể trên, còn có các bản dịch khác sau đây, những chữ số trong khung Số Hội của đồ biểu cũng tương đương với số Hội trong nội dung kinh Đại bảo tích. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này nay chỉ còn lại những phần rời rạc. Cứ theo Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện quyển 10, khi ngài Huyền Trang từ Ấn Độ trở về nước, đã mang về theo bản tiếng Phạm của kinh này. Sau khi ngài Huyền Trang đã dịch xong toàn bộ kinh Đại Bát Nhã 600 quyển, bậc Danh Đức các nơi thỉnh ngài dịch Lại Bộ kinh Bảo tích, nhưng lúc ấy ngài đã kiệt sức và tự biết chẳng bao lâu nữa ngài sẽ tịch, nên ngài đã từ chối lời thỉnh cầu. Nhưng bản tiếng Phạm do ngài Huyền Trang mang về nay không còn. Lại theo Ấn Độ Phật Giáo sử chương 13, chương 20 của Đa La Na Tha nói, thì nguyên bản tiếng Phạm của kinh này cùng với các kinh Hoa nghiêm, Đại tập. Bát Nhã mỗi thứ đều có hơn 10 vạn bài tụng, nhưng sau vì cứ đắp đổi truyền dịch nên nay chỉ còn 49 hội 120 quyển. Kinh này còn có bản dịch tiếng Tây tạng nhan đề: Đại bảo tích Pháp Môn thập vạn chương (Tạng: Dkon-mchog brtsegs-pa chen-poḥi chos-kyi-rnam-graṅs leḥu stoṅ-phrag-brgya-pa) cũng có 49 hội. Nhưng bản dịch Tây tạng vốn truyền dịch các hội một cách riêng lẻ, vả lại thiếu một số hội, sau mới theo bản Hán dịch mà bổ sung số hội đó và phỏng theo qui tắc 49 hội mà tập thành. Mỗi hội trong kinh này có rất nhiều chú sớ. Đại Bảo Tích Kinh Luận 4 quyển (ngài An tuệ soạn), do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào thời Bắc Ngụy, là chú thích hội 43 và Đại Bảo Tích Kinh thích cũng do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch là chú thích hội 41, Đại Bảo Tích Kinh sớ 3 quyển của ngài Tiềm Chân là chú thích hội 15 (bản dịch của ngài Bất Không), Đại Bảo Tích Kinh tử chú của ngài Khang Tăng Hội là chú thích hội 19 (bản dịch của ngài An Huyền). Ngoài ra, có rất nhiều bản chú sớ các hội thứ 5, hội thứ
28. [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 19.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 1.; Duyệt Tạng Tri Tân Q. 2., Q. 3.; Tây tạng dịch Đại Bảo Tích Kinh chi nghiên cứu (Anh bộ Văn kính, Đại cốc học báo 11)].
28. [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 19.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 1.; Duyệt Tạng Tri Tân Q. 2., Q. 3.; Tây tạng dịch Đại Bảo Tích Kinh chi nghiên cứu (Anh bộ Văn kính, Đại cốc học báo 11)].