Chú

《呪》 zhòu

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: ngôn ngữ Bí Mật có năng lực linh ứng đặc biệt, không thể lấy ngôn ngữ bình thường để giải thích được, là câu văn Bí Mật dùng xướng tụng trong khi cầu nguyện, còn gọi là thần chú (), mật chú (), chơn ngôn (). Nguyên Lai từ chú () là chúc (), là Mật Ngữ dùng tụng niệm hướng về chư vị thần linh cầu đảo, tuyên cáo khiến cho kẻ oán địch bị tai họa, hay mong muốn tiêu trừ ách nạn, cầu mong được Lợi Ích. Trong kinh Phệ Đà () xưa của Ấn Độ đã có Chú Thuật rồi. Theo quyển 14 Tạp A Hàm Kinh () cho biết rằng đức Thích Tôn đã từng bài bác vấn đề Chú Thuật; tuy nhiên, quyển 9 của kinh này có đề cập việc đức Phật Thuyết Chú Hộ Thân (Sanskrit: parītta, Pāli: paritta parittā, còn gọi là Hộ Chú [], Hộ Kinh [], Chú Văn []) trị rắn độc, cho nên chúng ta biết rõ rằng Chú Thuật đã được phổ biến ở Ấn Độ từ xa xưa và sau này Phật Giáo cũng có dùng đến. Các Kinh Điển thuộc giáo phái Đại Thừa Hiển Giáo Như Bát Nhã (), Pháp Hoa (), Bảo Tích (), Đại Tập (), Kim Quang Minh (), Lăng Già (), v.v., đều có Phẩm Đà La Ni () nêu rõ những câu thần chú. Đặc biệt Mật Giáo rất chú trọng đến mật chú, cho rằng chú là biểu thị cho “Pháp Nhĩ thường nhiên (, pháp vốn thường như vậy)”; cho nên nếu tụng đọc, Quán Tưởng mật chú, Hành Giả có thể được Lợi Ích Thành Phật. Thần chú được thuyết trong các Kinh Điển thì nhiều vô cùng, tỷ dụ như Thủy Hỏa Chú (), An Trạch Phù Chú (), Sát Lợi Chú (), v.v., trong A Ma Trú Kinh () thuộc quyển 13 hay Phạm Động Kinh () trong quyển 14 của Trường A Hàm (). Trong Tứ Phần Luật () quyển 27, Thập Tụng Luật () quyển 46, v.v., có các chú trị bệnh trùng trong ruột, chú hàng phục Ngoại Đạo, v.v. Hay một số chú khác như Bà La Môn Chú (), Thủ Đà La Thần Chú (), Đại Phạm Thiên Vương Bà Tỳ La Chú (), v.v., trong phẩm Chúng Tướng Vấn () của Ma Đăng Già Kinh () quyển thượng, v.v. Ngoài ra, trong quyển 4 của Xuất Tam Tạng Ký Tập () có Quán Đảnh Thất Vạn Nhị Thiên Thần Vương Hộ Tỳ Kheo Chú Kinh (), Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Thần Chú (), Thập Bát Long Vương Thần Chú Kinh (), Chú Củ Xỉ (), Thập Nhị Nhân Duyên Kết Lũ Thần Chú (), Uy Đức Đà La Thần Chú (), v.v., mỗi thứ 1 quyển. Thần chú có 2 loại lành và dữ. Loại thần chú lành thường được dùng để chữa bệnh hay hộ thân; thần chú dữ dùng để bùa yểm người khác, khiến cho họ bị tai họa. Trong Phẩm Phổ Môn thuộc quyển 7 của Pháp Hoa Kinh (), quyển 57 của Cựu Hoa Nghiêm Kinh (), quyển 4 của Thập Địa Kinh (), v.v., có đề cập đến loại thần chú dữ này. Đức Thế Tôn cấm chỉ hàng Đệ Tử tu tập Chú Thuật, sử dụng nó để mưu sinh, mà chỉ cho phép dùng chú để trị bệnh hay hộ thân mà thôi. Thông thường từ mantra được dịch là chú (). Hiện tồn bản tiếng Sanskrit của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (), Đà La Ni Nhập Lăng Già Kinh () có xuất hiện từ mantra này. Thế nhưng, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa () quyển 11 lại dịch từ Pāli vijjāmayā là chú. Trong Phẩm Đà La Ni thuộc quyển 7 của Pháp Hoa Kinh dịch từ Sanskrit dhārāṇī là chú. Từ đó, chúng ta thấy rằng từ Hán dịch chú có nhiều nguyên ngữ khác nhau. Bên cạnh đó, dhārāṇī còn có nghĩa là Tổng Trì (), vidya (Pāli: vijjā) là minh (), thuật (), mantra là chơn ngôn. Nghĩa các từ tuy có khác nhau nhưng đã được dùng lẫn lộn nhau. Có khá nhiều vị tăng ngoại quốc truyền Phật Giáo đầu tiên đến Trung Quốc rất sở trường về Chú Thuật, như trường hợp Đàm Vô Sấm () được xem như là Đại Chú Sư. Đạo Giáo Trung Quốc từ đó cũng bắt đầu lưu hành Chú Thuật. Trong Đăng Thiệp Thiên () thuộc quyển 4 của Bảo Bốc Tử Nội Thiên () có phần Lục Giáp Bí Chú (), có khả năng khiến cho người trong chiến trận không bị tử thương. Hay trong Thái Thượng Tử Vi Trung Thiên Thất Nguyên Chân Kinh (, Đạo Giáo quyển 1055)Bắc Đẩu Thất Tinh Chú (), Cơ Tinh Chân Nhân Chân Quân Bảo Mạng Chú (), v.v. Hơn nữa, trong Thái Thượng Nguyên Thỉ Thiên Tôn Thuyết Bảo Nguyệt Quang Hoàng Hậu Thánh Mẫu Khổng Tước Minh Vương Kinh (, Đạo Giáo quyển 1058)Bí Mật Khu Tà Phân Quỷ Nhân Đạo Chú (), v.v., tất cả đều có pha lẫn Phạn ngữ. Cũng giống như vậy, các Kinh Điển Phật Giáo Như Quán Đảnh Kinh (), Thích Ma Ha Diên Luận () quyển 9 có nêu rõ các loại thần chú, Uế Tích Kim Cang Cấm Bách Biến Pháp Kinh () thì đề cập đến những loại phù chú, ấn pháp. Tất cả đều có ảnh hưởng đến Kinh Điển Đạo Giáo. Ngoài ra, Mật Giáo của Nhật Bản cũng sử dụng rất nhiều mật chú.