Trần Sát
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: trần (塵) có nghĩa là bụi bặm, sát (Sanskrit: kṣetra, 剎) chỉ cho Quốc Độ; như vậy Trần Sát có nghĩa là các Quốc Độ nhiều vô lượng vô biên, không thể tính đếm được như cát bụi. Trong thời Công Phu khuya của Thiền Môn, có bài kệ tụng của Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú (大佛頂首楞嚴神咒) với câu: “Tương thử Thâm Tâm phụng Trần Sát, thị tắc danh vi báo Phật ân (將此深心奉塵剎、是則名爲報佛恩, lấy Thâm Tâm này phụng sự khắp mọi nơi, đó mới đúng là báo ơn Phật).” Hay như trong Tục Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận (續淨土生無生論) của Vi Lâm Đạo Bái (爲霖道霈, 1615-1702) ở Mân Cổ Sơn (閩鼓山) có đoạn: “Ngã kim Hiện Tiền Niệm Phật, nguyện sanh Tịnh Độ, mông Phật Thọ ký, Phân Thân Trần Sát, nhiếp hóa Chúng Sanh, thị Bồ Tát Pháp Giới (我今現前念佛、願生淨土、蒙佛授記、分身塵剎、攝化眾生、是菩薩法界, ta nay trước mặt Niệm Phật, nguyện sanh Tịnh Độ, mong Phật Thọ ký, Phân Thân khắp chốn, nhiếp hóa Chúng Sanh, đó là Pháp Giới của Bồ Tát).” Lại nữa, trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集) quyển 22 cũng có đoạn: “Thiền Sư kỳ ư Tịch Diệt định trung, chấn thanh nhất hát, trực sử đại địa nhĩ lung, Chư Hữu văn nhi bất kinh bố giả, tư tức khả vị tương thử Thâm Tâm phụng Trần Sát, thị tắc danh vi báo Phật ân hỉ (禪師其於寂滅定中、振聲一喝、直使大地耳聾、諸有聞而不驚怖者、斯卽可謂將此深心奉塵剎、是則名爲報佛恩矣, trong khi Nhập Định Tịch Diệt, Thiền Sư thét lên một tiếng chấn động, trực tiếp khiến cho đại địa điếc tai; nếu có ai nghe mà không sợ hãi, người đó có thể gọi là lấy Thâm Tâm này phụng sự khắp tất cả, đó mới gọi là báo ơn Phật vậy).” Ngoài ra, trong bài xưng tán Quán Thế Âm Bồ Tát có câu: “Quan Âm Bồ Tát diệu nan thù, thanh tịnh Trang Nghiêm lũy kiếp tu, Tam Thập Nhị Ứng biến Trần Sát, bách thiên vạn kiếp hóa Diêm Phù, bình trung Cam Lồ thường thời sái, thủ nội dương liễu bất kế thu, thiên xứ kỳ cầu thiên xứ hiện, Khổ Hải thường tác độ nhân chu (觀音菩薩妙難酬、清淨莊嚴累劫修、三十二應遍塵剎、百千萬劫化閻浮、瓶中甘露常時洒、手內楊柳不計秋、千處祈求千處現、苦海常作度人舟, Quan Âm Bồ Tát mầu khó bì, thanh tịnh Trang Nghiêm bao kiếp tu, ba mươi hai ứng khắp tất cả, trăm ngàn vạn kiếp hóa Diêm Phù, trong bình Cam Lồ thường lúc rưới, trong tay dương liễu chẳng kể thu, ngàn xứ có cầu ngàn xứ hiện, bể khổ thuyền từ độ người qua).”