Tông Khách Ba
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Tạng: Tsoí-kha-pa. Nhà cải cách Phật giáo Tây tạng sống vào thế kỷ XIV, XV, cũng là Tổ khai sáng của phái Hoàng mạo (phái đội mũ màu vàng) thuộc Lạt Ma Giáo, người ở vùng Tông khách tại Tây ninh thuộc tỉnh Thanh hải. Sư vốn có tên là Hiền tuệ xứng Cát Tường, Pháp Danh là La bốc tạng trát khắc ba,La tang trát ba (Tạng: Lozan-tak-pa), còn Tông Khách Ba là do người đời sau tôn xưng theo địa danh, nơi sinh của sư. Lúc sư lên 3, Pháp Vương Cát mã ba du hí Kim Cương từ Tây tạng đến Nội địa thấy sư có dung mạo phi phàm, liền cho sư thụ Cận sự giới, ban hiệu là Khánh Hỉ tạng. Năm 7 tuổi, sư y chỉ vào ngài Đôn châu nhân khâm Thụ Giới Sa Di. Sư tu học pháp Liên Hoa Bộ ở chùa Tát ca tại Trát Thập Luân bố(Nhật khách tắc), lãnh hội hết ý nghĩa sâu kín. Sư lại đến Tuyết Sơn tu Khổ Hạnh trong mấy năm, người Tây tạng tôn sư là Giáp lặc ngõa. Rồi sư tu học giáo nghĩa của phái Ca đương (Tạng: Bka#-gdam-pa), đồng thời đi tu học các nơi. Bấy giờ, phái Tát ca (Tạng: Sa-skya-pa) đã bị rơi vào tà giáo chú pháp của phái Hồng mạo(phái đội mũ đỏ), sư rất thương cảm nên Phát Nguyện cải cách. Năm 36 tuổi, Sư Đề Xướng chủ nghĩa nghiêm thủ độc thân theo đúng giới luật của Phật giáo, sáng Lập Giáo phái Đâu suất (Phạm:Dga#- ldan), sau đổi thành phái Ngạch nhĩ đức (Tạng:Dge-lugs-pa) nghĩa là phái Đức hạnh. Người đương thời thấy tình trạng đồi bại của phái Hồng mạo nên rất ngưỡng mộ giáo đoàn của sư. Nhưng cũng vì thế mà Sư Bị các nơi áp bức nên phải ẩn trốn trong núi. Sư Đề Xướng thuyết dung hợp giữa Bát Nhã trung quán và Bí Mật Kim Cương thừa, giáo lí củasư thu hút phái Ca đương từ ngài Ađềsa về sau và thực hành phương thức Khất Thực, tọa cụ, phục trang, giới luật của Phật giáo nguyên thủy, đồng thời đội mũ màu vàng để Phân Biệt với phái đội mũ đen (Tạng: Shwa-nag) của Bổng Giáo và phái đội mũ đỏ (Tạng: Shwa-dwar) đã có từ xưa đến nay, cho nên hệ phái của sư được gọi là Hoàng mạo phái (Tạng: Shwaser), Hoàng y phái (phái áo vàng). Giới luật và đức hạnh của sư lan tỏa trên toàn cõi Tây tạng, phạm vi thế lực cũng dần dần được mở rộng và trở thành nguồn gốc của Đạt lại và Ban Thiền Lạt Ma đời sau. Sư sáng lập chùa Cam đan ở ngoại ô thủ đô Lhasa, là Bản Sơn của phái Hoàng mạo. Sau đó,sư sai Đệ Tử xây chùa Sắc lạp và chùa Biệt bạng ở gần Lhasa, ở các chùa này, Sư chia ra giáo hóa, chỉ trong vòng mấy năm đã giành được tòa pháp của Hồng y Lạt Ma. Tín Đồ đều coi sư là Hóa Thân của Phật Adiđà hoặc của Bồ Tát Văn thù và lại càng thêm sùng kính. Thông thường sư cũng được mọi người tôn là Đệ Nhị Năng Nhân. Các Đệ Tử nổi tiếng của sư có: Đạt Nhĩ Ma Nhân Khâm (Tạng: Dar-ma rin-chen, 1364-1432), Căn đôn châu ba (Tạng: Dge-#dun-grub-pa, 1390-1475), Khải Châu (Tạng: Mkhas-grub-rje, 1385-1435)... Trong đó, 2 vị Căn đôn châu ba và Khải Châu được sư truyền đại pháp. Ngài Căn đôn châu ba thì mở rộng hệ thống truyền thừa Đạt Lại Lạt Ma, còn ngài Khải ba thì mở rộng hệ thống truyền thừa Ban Thiền Lạt Ma. Đạt lại và Ban thiền đời đời Chuyển Sinh để hóa độ Chúng Sinh. Sư có rất nhiều tác phẩm, đến hơn 200 loại lớn nhỏ, bao gồm các sách chú thích về Hiển giáo và Mật giáo, văn Lễ Tán, văn kì đảo, sách giáo dục, thư hàn, giác thư, Bí Mật nghi quĩ, Thành Tựu pháp... được biên soạn thành Tông Khách Ba Toàn Thư (Tạng:Gsuís #bum). Trong đó, có 2 tác phẩm quan trọng nhất là: Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Luận (Tạng: Byan-chub-lam-rim) nói khái quát về giáo nghĩa của phái Thậm Thâm Quán (Tạng: Zad-mo lta-ba), phái Quảng Đại Hành (Tạng: Rgya-chen Spyod-pa) thuộc Hiển giáo và Bí Mật Đạo Thứ Đệ Luận (Tạng:Síag-rim, cũng gọi Mật Tông đạo thứ luận) nói khái quát về giáo nghĩa của phái Gia trì kì đảo (Tạng: Ĩamlenbyin-rlabs) thuộc Mật giáo. Trong 2 bộ luận trên, ngài Tông Khách Ba nói rõ về thứ tự tu hành của Hiển tông và Mật Tông, đồng thời nhấn mạnh chủ trương quan trọng là bất luận Hiển hay Mật đều phải giữ gìn giới luật. Hai tác phẩm này đều có bản quảng và lược. Bồ Đề đạo Thứ Đệ quảng luận gần đây đã được ngài Pháp Tôn dịch ra Trung văn(bản in chụp của nhà xuất bản Tân văn phong), Lược luận phần lớn cũng đã được ngài Đại dũng dịch và ngài Pháp Tôn bổ túc(bản in chụp của Ấn kinh xứ ở Đài Loan).Nhìn chung, giá trị tư tưởng then chốt của sư là ở chỗ liên kết Phật giáo Đại Thừa ở thời kì cuối tại Ấn Độ với Phật giáo Tây Tạng. Giáo chỉ của phái Hoàng y do sư truyền thực ra đã dựa vào Liên Hoa Hộ Pháp của Adiđà Như Lai do ngài Long mãnh truyền, đều tôn thờ Minh phi bộ hộ của Bản Tôn bộ mẫu, giống như phái Hồng y, mà pháp tu nghiệm cũng không khác với phái Hồng y. Chỉ vì chỉnh đốn phái Hồng y và chú trọng về Cam Châu Nhĩ nên giữ nghiêm giới luật, thăng hoa đức hạnh, lấy việc Thành Tựu sự trong sáng của Liên Hoa Bộ một cách chân chính làm yếu chỉ căn bản, còn giáo qui của sư thì lấy sự hộ trì tâm Bồ Đề làm chính. Ngay trong phái Hoàng y cũng có 2 phái lớn và đều tôn sùng đức hạnh giới luật, chân thực tu nghiệm, hình thức lí thú của 2 phái đều không khác nhau. Tông Khách Ba Thị Tịch vào năm Vĩnh lạc 15 (1478) đời Minh, thọ 63 tuổi.Các Đệ Tử của sư lấy ngày sư Thị Tịch 25 tháng 10 làm ngày Tông Giáo. Nhưng về năm sinh và năm mất của sư có nhiều thuyết khác nhau, như có thuyết cho rằng sư sinh năm 1355 và Thị Tịch năm 1417; lại có thuyết chủ trương sư sinh năm 1357 và Thị Tịch năm 1419... [X. Tây Tạng Phật Giáo lược sử (Lí dực chước); Lạt Ma Giáo giáo lí khái thuyết (Tự bản uyển nhã); Tây Tạng Phật Giáo nghiên cứu (Trường vĩ nhã nhân); Grammar of the Tibetan Language, by A.Csoma; The Buddhism in Tibet, by E.Schlagintweit; The Buddhism of Tibet, by L.A.Waddell; Tibetan English Dictionary, by Candra Das; Tibetan Temple Paintings, by W.J.G.Van Meurs]. (xt. Thậm Thâm Quán).