Toạ Thiền Tam Muội Kinh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Dhyàna-niwỉhita-samàdhidharmparyàya-sùtra. Cũng gọi: Tọa Thiền Tam Muội pháp Môn Kinh, Bồ Tát thiền Pháp Kinh, A Lan Nhã tập thiền pháp, Thiền Pháp Yếu. Gọi tắt: Thiền kinh. Kinh, 2 quyển (hoặc 3 quyển), do ngài Cưu Ma La Thập dịch tại Trường an vào năm Hoằngthủy thứ 4 (402) đời Diêu Tần, năm Hoằngthủy thứ 9 (407) sửa chữa lại, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thu chép thiền yếu của các nhà, nói rõ về pháp Ngũ Môn Thiền, đồng thời bàn về Thiền quán tổng hợp giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa. Cứ theo lời tựa trong Quan trung xuất thiền kinh của ngài Tăng Duệ thì từ ngữ Các nhà là chỉ cho các Đại sư: Cưu Ma La la đà, Mã Minh, Bà tu mật, Tăng Già La Xoa, Âu ba quật, Tăng Già tư na, Lặctỉkhưu...… Kinh này giống với kinh Đạt Ma Đa La thiền do ngài Giáchiền dịch tạiLô sơn, nói về Thiền quán có tính cách tổng hợp giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa. Khi kinh này chưa được Phiên Dịch thì Thiền quán của Phật giáo Trung Quốc ở thời kì đầu đều căn cứ theo bộ Thiền kinh do ngài An Thế Cao dịch vào thời Hậu Hán. Về sau, nhờ ngài Đạoan Đề Xướng thì Thiền quán Miền Bắc vào đời Tiền Tần và Hậu Tần mới dần dần hưng thịnh, đồng thời phương Pháp Thực tu cũng thịnh hành, nhưng đều không ngoài lãnh vựcThiền Tiểu Thừa. Sau khi ngài Cưu Ma La Thập Dịch Kinh này thì sự quan hệ giữa Phật giáo Đại Thừa và Thiền Tiểu Thừa cũng như sự quan hệ giữa Thiền Đại Thừa và Thiền Tiểu Thừa mới được xác định rõ ràng. Cho nên công lao thúc đẩy của kinh này đốivới việc thành lập Thiên thai Chỉ Quán và sự ra đời của Thiền Tông Trung Quốc thực là to lớn, không thể bị quên lãng. [X. Xuất Tam Tạng kí tập quyển 2, 9; Khai nguyên Thích Giáo lụcQ. 4.; Trung Quốc Phật giáo sơ kì chi Thiền quán (Hoành Siêu Tuệ nhật)].